Hoạt động đối ngoại của Việt Nam

Tin tức

Sở Ngoại vụ Thành phố Hồ Chí Minh

Đơn vị trực thuộc Bộ Ngoại giao Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Na

Bình thường hoá quan hệ Việt - Mỹ: Quá trình lâu dài và chông gai

Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Văn Bàng là người tham gia từ rất sớm vào tiến trình quan hệ Việt - Mỹ. Ông cũng từng là đại sứ đầu tiên của Việt Nam tai Washington sau chiến tranh. Ông đã trả lời phỏng vấn cho phóng viên Báo Lao động về những khó khăn trong tiến trình bình thường hoá quan hệ.

Báo Lao động: Thưa Thứ trưởng, xin ông cho biết liệu có phải ngay từ cuối những năm 1970 đã có những nỗ lực bình thường hoá quan hệ đầu tiên giữa Việt Nam và Hoa Kỳ ?

Thứ trưởng Lê Văn Bàng: Đúng là thời gian năm 1976 - 1977 đã có những nỗ lực đầu tiên nhằm bình thường hoá quan hệ giữa hai nước nhưng không thành công, dù ta cố gắng vượt bậc. Theo tôi nghĩ, nguyên nhân là lúc đó tình hình thế giới và khu vực thay đổi tương đối nhanh.

Báo Lao động: Lúc đó hai bên đã có những tiếp xúc thế nào?

Thứ trưởng Lê Văn Bàng: Ta đã có những cuộc đàm phán với Mỹ ở Paris, sau đó ở New York, hai bên đã đi đến tương đối gần nhau. Mỹ đã chụp ảnh toà đại sứ của chính quyền miền Nam Việt Nam ở Washington định trao lại cho ta. Cuối năm 1978, phía Việt Nam bắt tay chuẩn bị nhân sự cho sứ quán tại Washington. Sau đó vì tình hình cămpuchia nên họ chấm dứt.

Báo Lao động: Thưa Thứ trưởng, nếu việc bình thường hoá được thúc đẩy ngay lúc đó, thì quan hệ hai bên có khác nhiều không?

Thứ trưởng Lê Văn Bàng: Theo ý kiến của riêng tôi, có thể có phần khác nhưng sẽ không khác cơ bản. Tình hình thế giới lúc đó rất căng thẳng, chắc chắn chúng ta sẽ bị ảnh hưởng. Tôi nhớ lúc đó bình thường hoá quan hệ giữa Cu Ba và Mỹ cũng được tiến hành song song và họ đã đi tới thành lập Phòng Quyền lợi giữa Cu Ba và Mỹ, nhưng sau đó cũng không phát triển lên được. Nếu Việt Nam và Mỹ có thành lập được Phòng Quyền lợi, thì cũng dễ xảy ra tình trạng như thế.

Báo Lao động: Nhưng liệu ta có thể sẽ tránh được nhiều năm bị bao vây, cấm vận của Mỹ?

Thứ trưởng Lê Văn Bàng: Chưa chắc. Cu Ba hiện vẫn bị bao vây cấm vận dù có Phòng Quyền lợi. Lúc đó cấm vận của Mỹ đối với Việt Nam phụ thuộc vào những vấn đề như Cămpuchia, quan hệ giữa Mỹ với Liên Xô và Trung Quốc, phụ thuộc vào vấn đề ý thức hệ.

Báo Lao động: Nhưng như vậy nghĩa là chúng ta đã mong muốn thiết lập quan hệ với Mỹ sau chiến tranh?

Thứ trưởng Lê Văn Bàng: Đúng thế. Tôi nhớ tháng 5.1978 ta đã quyết định không nêu Điều 21 trong Hiệp định Geneve về Việt Nam như một điều kiện tiên quyết để bình thường hoá. Điều khoản này quy định Mỹ phải có trách nhiệm xây dựng lại Việt Nam sau chiến tranh. Lúc đầu ta đã nêu, nhưng xét thấy vấn đề bình thường hoá có ý nghĩa lớn, nên ta tạm gác lại. Hơn nữa, trong bối cảnh lúc đó chắc chắn phía Mỹ cũng không chấp nhận.

Báo Lao động: Vậy đến khi nào thì chúng ta mới trở lại với vấn đề bình thường hoá quan hệ với Mỹ?

Thứ trưởng Lê Văn Bàng: Từ năm 1985, khi Liên Xô bắt đầu cải tổ, tình hình thế giới có những thay đổi thì quan hệ Việt - Mỹ có những tiến triển, đặc biệt từ năm 1986 ta đổi mới thì hai bên bắt đầu có những tiếp xúc trở lại, đặc biệt Mỹ rất quan tâm vấn đề người Mỹ mất tích sau chiến tranh (MIA). Các cuộc thương lượng tìm kiếm MIA như một chất xúc tác, như chiếc cầu nối giúp hai bên bắt đầu hợp tác giải quyết các vấn đề do chiến tranh để lại. Song song lúc đó ta cũng chú ý đi đến giải pháp về Cămpuchia. Sau khi hai vấn đề đó có tiến triển tốt thì hai bên thực sự tính tới bình thường hoá mà bước đầu của họ là bỏ cấm vận ngày 3.2.1994, đầu năm 1995 bình thường hoá quan hệ và thiết lập Văn phòng Liên lạc.

Báo Lao động: Theo Thứ trưởng, đâu là trở ngại lớn mà chúng ta đã vượt qua trong những nỗ lực ngoại giao lúc đó?

Thứ trưởng Lê Văn Bàng: Thời kỳ đó, vấn đề chính là MIA. Lúc đó dư luận Mỹ cho rằng ở Việt Nam vẫn còn người Mỹ còn sống, ta giam giữ họ để làm con tin và đòi bồi thường. Có lần phía Mỹ nói muốn đi tìm người mất tích ở một địa điểm, nhưng lại không cho biết địa điểm đó ở đâu. Đó là điều rất khó chấp nhận với chúng ta, nhưng ta đã chấp nhận. Họ yêu cầu Việt Nam cung cấp trực thăng và bay đến một khu rừng ở Thanh Hoá. Họ nghĩ ở đó còn đang giữ nhưng người Mỹ còn sống, nhưng thực chất ở đó không có gì cả. Đó là những điều rất khó khăn, liên quan đến vấn đề chủ quyền, an ninh. Nhưng ta đã chứng minh rằng không có những chuyện che dấu.

Đối với nội bộ chúng ta cũng rất khó khăn. Tôi nhớ lúc đó Quốc hội chất vấn tại sao ta phải làm như vậy, trong khi ta còn hàng trăm nghìn người mất tích. Bộ Ngoại giao phải trình Quốc hội rằng những bước đi trong quan hệ với Mỹ cũng là theo truyền thống hoà giải, hoà hiếu của dân tộc. Do vậy, Quốc hội đã chấp nhận. Cho đến giờ hợp tác về MIA vẫn tiếp tục và đã đạt được kết quả rất tốt. Nhân dân, Quốc hội, chính quyền Mỹ đã nhiều lần cảm ơn, nói rằng đây là một ví dụ mà sau chiến tranh chưa nước nào trên thế giới làm được, chỉ có Việt Nam và Mỹ giải quyết vấn đề tốt đẹp đến vậy. Đó là một trong những điểm tốt hỗ trợ cho chúng ta trong quan hệ nói chung.

Báo Lao động: Xin cảm ơn Thứ trưởng