Câu 1: Ngày 30/1/2005 Việt Nam và LB Nga sẽ kỷ niệm 55 ngày thiết lập quan hệ ngoại giao. Ngài có bình luận gì về sự kiện quan trọng trong quan hệ giữa 2 nước này?
Một phần câu trả lời của tôi đã có trong câu hỏi của bạn rồi. Đúng là lễ kỷ niệm việc thiết lập quan hệ ngoại giữa giữa hai nước chúng ta là một sự kiện mang tính dấu mốc đã mở ra một kỷ nguyên mới trong các mối quan hệ giữa hai dân tộc chúng ta, tạo dựng nên sự khởi đầu cho sự trưởng thành hợp tác đa dạng và gắn bó.
Các mối quan hệ này đã trải qua những thử thách trong những năm tháng khốc liệt của cuộc đấu tranh vì nền độc lập của Việt Nam và trong thời gian không kém phần gian khổ hơn của công cuộc khôi phục kinh tế và xây dựng cuộc sống mới tại đất nước hữu nghị này. Các chuyên gia từ Nga và các nước cộng hòa khác của Liên Xô cùng các đồng nghiệp Việt Nam đã tiến hành khảo sát nguồn hydrocácbon và cùng nhau khai thác dầu khí trong khuôn khổ Xí nghiệp Liên doanh Vietsovpetro, đã lao động xây dựng các hạng mục công trình nền tảng của nền kinh tế quốc dân Việt Nam, trong đó có nhà máy thủy điện lớn nhất Đông Nam Á – Thủy điện Hòa bình. Trong các trường đại học của đất nước chúng tôi, hơn 30.000 công dân Việt Nam đã nhận được học vấn đại học, trong đó có 3.500 phó tiến sỹ và tiến sỹ khoa học.
Hôm nay, tôi rất sung sướng ghi nhận rằng sự phát triển các mối quan hệ với CHXHCN Việt Nam vẫn là một trong những ưu tiên đối ngoại của Liên bang Nga tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Và chúng tôi có quyền tự hào về sự phát triển mạnh mẽ các mối quan hệ đối tác chiến lược với Việt Nam trong nhiều lĩnh vực, mối quan hệ đối tác dựa trên nền tảng hoành tráng của tình hữu nghị gắn bó và sự phối hợp hành động thực tiễn được tạo dựng trong 55 năm qua.
2.Cho tới nay, Nhà máy Thủy điện Hòa Bình và Xí nghiệp Liên doanh dầu khí Vietsovpetro vẫn được coi là biểu tượng của tình hữu nghị truyền thống giữa hai nước chúng ta. Theo Ngài, công trình hợp tác song phương nào có thể trở thành biểu tượng tương tự của mối quan hệ đối tác chiến lược giữa 2 nước trong thế kỷ 21 này? Hai bên cần làm gì để đưa mối quan hệ thương mại-kinh tế lên một tầm cao mới tương xứng với quan hệ trong lĩnh vực chính trị?
Nga và Việt Nam là hai đối tác truyền thống trong nhiều lĩnh vực của các mối quan hệ liên quốc gia. Sự hợp tác lâu dài, đa dạng và đầy hiệu quả của hai nước chúng ta đã được hình thành cả trong lĩnh vực thương mại-kinh tế. Trong những năm qua, với sự trợ giúp kỹ thuật của Liên Xô tại Việt Nam đã xây dựng hơn 300 xí nghiệp trong các ngành khác nhau của nền kinh tế quốc dân như khai thác mỏ, hóa chất, công nghiệp thực phẩm, giao thông vận tải, sản xuất vật liệu xây dựng.
Sau khi Liên Xô tan vỡ, hợp tác của chúng ta đã gặp phải hàng loạt những thử thách cam go. Sau sự suy giảm to lớn khối lượng thương mại song phương vào những năm 90, khởi đầu thế kỷ mới này đã được đánh dấu bằng sự tăng trưởng rõ nét của việc trao đổi hàng hóa song phương. Trong các năm 2000-2004, kim ngạch thương mại Việt-Nga đã vượt quá 3 tỷ USD. Xu hướng đã định hình này minh chứng cho sự hiện diện của mối quan tâm lẫn nhau một cách bền bỉ giữa các doanh nghiệp và tổ chức của Nga và Việt Nam.
Hiện nay, Nga đang tích cực tham gia vào hợp tác đầu tư tại Việt Nam - con tàu chỉ huy của nền công nghiệp Việt Nam Xí nghiệp Liên doanh Vietsovpetro đang hoạt động một cách thành công, đóng góp hơn 60% sản lượng khai thác dầu quốc gia của Việt Nam. Trong năm 2003, công ty liên doanh nghiệp vụ Nga-Việt Vietgazprom đã khởi công việc khoan thăm dò thềm lục địa Việt Nam. Ngoài hai xí nghiệp này, tại Việt Nam đang triển khai 45 dự án với sự đóng góp vốn của Nga. Công nghiệp chế biến, giao thông vận tải, khai thác và chế biến hải sản là các lĩnh vực Nga đầu tư.
Đồng thời, phải công nhận rằng mức độ và kết quả của sự phối hợp hành động thương mại-kinh tế của hai nước chúng ta chưa phù hợp với những khả năng sẵn có. Vấn đề khai thác một cách hữu hiệu tiềm năng mối quan hệ thương mại-kinh tế có một ý nghĩa mang tính nguyên tắc đối với chúng ta. Việc đó được ban lãnh đạo hai nước quan tâm và được xem xét một cách thường xuyên trong khuôn khổ Ủy ban liên chính phủ Nga-Việt về hợp tác thương mại-kinh tế và khoa học-kỹ thuật.
Thực hiện các thỏa thuận đã đạt được vào tháng 3/2002, hai nước đã ký kết Hiệp định liên chính phủ về việc Chính phủ Liên bang Nga cấp cho Việt Nam khoản tín dụng Nhà nước trị giá 100 triệu USD để hỗ trợ kỹ thuật trong xây dựng các hạng mục công trình thủy điện, Hiệp định liên chính phủ về hợp tác sử dụng năng lượng hạt nhân vì mục đích hòa bình.
Chúng tôi cho rằng các công trình mà Việt Nam dự định xây dựng như Nhà máy Thủy điện Sơn La và nhà máy thủy điện hạt nhân đầu tiên tại Việt Nam là những công trình rất có triển vọng trong sự phối hợp hành động giữa hai nước. Các tổ chức có quan tâm của Nga cũng sẵn sàng tham gia vào việc thực hiện các dự án về xây dựng tàu điện ngầm tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh cũng như việc đưa vào hoạt động vệ tinh liên lạc của Việt Nam trong khuôn khổ dự án Vianasat.
Triển vọng gia tăng khối lượng thương mại song phương thể hiện không chỉ ở việc đẩy mạnh hợp tác trong các lĩnh vực truyền thống như điện năng, thăm dò và khai thác dầu khí, mà còn ở việc mở rộng hợp tác với hàng loạt những hướng đi khác, kể cả việc mở rộng các cuộc gặp gỡ cấp cao.
Những địa phương có những mối quan hệ truyền thống với Việt Nam đang quan tâm đến hợp tác với Việt Nam như Mátxcơva, Sanh Peterburg, tỉnh Primorskiy, tỉnh Khabarovsk, các nước cộng hòa Bashkorstostan và Tartastan, các tỉnh Yaroslavl, Nhizhegorog, Voronhezh, Sverlov.
3. Nhiều công dân Việt Nam đã và đang sinh sống, học tập và làm việc trên lãnh thổ LB Nga. Cũng có nhiều chuyên gia Nga trước đây đã từng làm việc tại Việt Nam. Theo Ngài, cần phải làm gì để sử dụng hết tiềm năng sẵn có này như một cầu nối liên kết giữa hai nước, trước hết trong lĩnh vực trao đổi văn hóa và giáo dục?
Thực tế cho thấy, những người Việt Nam đã từng sống và học tập trên đất nước chúng tôi đều nhớ về Nga với một tình cảm mến yêu, coi Nga như tổ quốc thứ hai của mình. Bởi vậy, đương nhiên, bộ phận cộng đồng người Việt Nam này là những người ủng hộ nhiệt thành cho sự phát triển quan hệ trao đổi văn hóa và hợp tác trong lĩnh vực giáo dục. Trong những chuyên gia Nga đã từng làm việc tại Việt Nam cũng có những tình cảm như vậy. Chính họ đang tích cực tham gia vào hoạt động của Hội hữu nghị với Việt Nam.
Mặt khác, do hiểu biết truyền thống, phong tục, nền văn hóa Nga và Việt Nam, điều kiện quản lý kinh doanh, thị trường và luật pháp của hai nước nên những người này có khả năng hỗ trợ một cách mạnh mẽ các doanh nhân hai nước trong việc hợp tác làm ăn.