Triển khai chủ trương tích cực, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế của Đại hội Đảng lần thứ IX, kể từ sau khi nước ta gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) tháng 01 năm 2007, ngành ngoại giao đã có những đóng góp tích cực nhằm tranh thủ các nguồn lực bên ngoài để phục vụ công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, góp phần tạo lập và duy trì môi trường quốc tế và khu vực hòa bình, ổn định, tạo điều kiện cho công cuộc phát triển kinh tế đất nước, và qua đó, không ngừng nâng cao thế và lực của đất nước ta.
Ngành ngoại giao với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế (HNKTQT) kể từ khi nước ta gia nhập WTO đến nay
Đóng góp nổi bật nhất của ngành ngoại giao đối với tiến trình HNKTQT của đất nước là việc tham mưu, đề xuất các chủ trương, chính sách nhằm triển khai đường lối HNKTQT. Đặc biệt, ngành ngoại giao đã tham gia xây dựng đường lối đối ngoại của Đại hội Đảng lần thứ XI, trong đó có nội hàm về hội nhập quốc tế và ngoại giao toàn diện. Để triển khai chủ trương của Đại hội về chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, Ngành ngoại giao đã kiến nghị Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị ngày 9/01/2012 về một số biện pháp triển khai mạnh mẽ chủ trương này, đồng thời đóng góp tích cực vào việc hình thành các chủ trương, chính sách lớn của nước ta trong tham gia các hình thái liên kết kinh tế, đặc biệt là các hiệp định mậu dịch tự do (FTA), ở những cấp độ khác nhau.
Với vai trò tham mưu, ngành ngoại giao đã tích cực triển khai công tác nghiên cứu, dự báo, qua đó, có những báo cáo kịp thời về các xu hướng lớn trong kinh tế, thương mại quốc tế, sự xuất hiện của các tập hợp lực lượng mới và các hình thái liên kết kinh tế, thương mại mới, các vấn đề mới nổi lên ở cấp độ khu vực và toàn cầu có liên quan mật thiết đến phát triển kinh tế của nước ta. Những báo cáo này, với ý kiến đóng góp của các học giả, viện nghiên cứu có uy tín như Paul Krugman, Jomo Sundaram, Michael Porter, Đại học Ha-vớt…, đã góp phần để Lãnh đạo ta có những quyết định kịp thời về các vấn đề HNKTQT quan trọng.
Ngành ngoại giao cũng đã tích cực thúc đẩy sự tham gia chủ động và hiệu quả của Việt Nam tại các tổ chức, cơ chế hợp tác kinh tế, thương mại từ cấp độ tiểu vùng, khu vực đến liên khu vực và toàn cầu, thể hiện trên một số phương diện chính sau:
Một là, ngành ngoại giao đã chủ trì tổ chức thành công nhiều sự kiện quan trọng trong khuôn khổ các cơ chế, diễn đàn hợp tác. Đáng chú ý là đã tổ chức thành công Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 18 và 19 năm 2010, và phối hợp với các Bộ, ngành tổ chức hơn 40 hội nghị lớn nhỏ ở các cấp trong năm Chủ tịch ASEAN 2010. Bên cạnh đó, một loạt các sự kiện khác cũng đã được tổ chức thành công như Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao Diễn đàn hợp tác Á - Âu (ASEM) lần thứ 9 (2009), Hội nghị Cấp cao Mê công – Nhật Bản lần thứ 2 (2010), v.v…
Hai là, ngành ngoại giao đã đi đầu trong đề xuất và triển khai nhiều sáng kiến trong khuôn khổ các diễn đàn và cơ chế hợp tác mà nước ta là thành viên. Ngành ngoại giao đã thúc đẩy triển khai Kế hoạch kết nối ASEAN, hoàn thành xuất sắc vai trò đại diện Việt Nam tại Ủy ban điều phối kết nối ASEAN; tham gia rà soát và xây dựng Quy hoạch lại Tam giác phát triển đến 2020 trong khuôn khổ cơ chế hợp tác Campuchia – Lào – Việt Nam; nỗ lực trong phối hợp với các Bộ, ngành để triển khai hơn 10 sáng kiến tại các diễn đàn APEC và ASEM.
Ba là, ngành ngoại giao cũng đã phát huy hiệu quả vai trò điều phối trong khuôn khổ các diễn đàn, tổ chức khu vực và quốc tế như ASEM, APEC, Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF), Diễn đàn Hợp tác Đông Á - Mỹ La tinh (FEALAC), Chiến lược hợp tác kinh tế A-ye-ya-oa-đi – Chao Pờ-ra-da – Mê-công (ACMECS), Sáng kiến Hạ lưu Mê-công (LMI), tạo cơ hội thuận lợi hơn để tranh thủ hợp tác, hỗ trợ quốc tế phục vụ phát triển của đất nước.
Đặc biệt, với việc thiết lập quan hệ “đối tác chiến lược” với 10 nước (trong đó có hai nước là quan hệ đối tác chiến lược về biến đổi khí hậu), quan hệ “đối tác toàn diện” với 7 nước và chủ trì đàm phán thành công Hiệp định khung về đối tác toàn diện và hợp tác Việt Nam – Liên minh châu Âu (PCA), ký tắt tháng 10/2010 và chuẩn bị ký chính thức trong năm 2012, ngành ngoại giao đã góp phần quan trọng tăng cường tạo đan xen lợi ích với các đối tác, nhất là các đối tác kinh tế-thương mại then chốt của ta, góp phần nâng cao thế và lực cho đất nước, tạo cơ sở vững chắc cho công tác hội nhập quốc tế của ta trong thời gian tới.
Những nỗ lực của ngành ngoại giao không chỉ đã góp phần khẳng định chỗ đứng ngày càng vững chắc của đất nước tại các cơ chế hợp tác kinh tế quốc tế ở mọi cấp độ, mà còn góp phần tích cực vào công cuộc HNKTQT ngày càng sâu rộng và toàn diện của đất nước.
Công tác vận động chính trị - ngoại giao hỗ trợ các hoạt động kinh tế đối ngoại, nhất là trong tháo gỡ các vướng mắc kinh tế là một trọng tâm của ngành ngoại giao trong 5 năm qua. Công tác này được triển khai mạnh mẽ trong bối cảnh tình hình quốc tế diễn biến phức tạp và chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch ở các nền kinh tế có xu hướng gia tăng. Những kết quả nổi bật có thể kể đến gồm: việc thúc đẩy mở thị trường lao động tại nhiều nước, nỗ lực giải cứu người lao động ta tại Li-bi năm 2011, việc kiên trì vận động thành công EU chấm dứt áp thuế chống bán phá giá đối với xe đạp và giầy mũ da, việc vận động thành công Tổ chức bảo vệ động vật hoang dã đưa cá tra ra khỏi danh mục đỏ trong cẩm nang tiêu dùng thủy sản của châu Âu, v.v…
Đặc biệt, Ngành ngoại giao triển khai mạnh mẽ, bài bản công tác vận động các nước công nhận quy chế kinh tế thị trường của Việt Nam. Đến nay, nhiều đối tác thương mại chủ chốt của ta, thành viên của các thể chế quan trọng như OECD, G20, BRICS đã công nhận quy chế kinh tế thị trường đầy đủ của Việt Nam, như ASEAN, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ốt-xtrây-lia, Niu Di-lân, Nam Phi, Ác-hen-ti-na, Chi-lê, v.v… Các đối tác quan trọng khác như Hoa Kỳ và EU cũng cam kết xem xét nghiêm túc vấn đề này, đặc biệt EU nhất trí thúc đẩy việc công nhận quy chế kinh tế thị trường của Việt Nam trong thời gian sớm nhất.
Để góp phần củng cố và nâng cao hiệu quả tổ chức bộ máy triển khai công tác đối ngoại nói chung và đặc biệt là công tác HNKTQT nói riêng, Ngành ngoại giao đã kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền ban hành một số văn bản quan trọng, đặc biệt là Luật Cơ quan đại diện nước CHXHCN Việt Nam ở nước ngoài (6/2009) và các văn bản hướng dẫn thi hành luật; Pháp lệnh về ký kết và thực hiện thỏa thuận quốc tế (4/2007); Thông tư hướng dẫn việc ký kết các điều ước quốc tế về ODA (02/2008); Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về biện pháp tăng cường kiểm tra và đôn đốc việc thực hiện các điều ước quốc tế về kinh tế - thương mại (4/2008); và Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường quản lý nhà nước đối với công tác điều ước, thỏa thuận quốc tế (3/2012).
Ngành ngoại giao cũng quan tâm vận động kiều bào ta ủng hộ tiến trình HNKTQT của đất nước, như phối hợp xây dựng Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật nhà ở liên quan đến sở hữu nhà ở tại Việt Nam của người Việt Nam định cư ở nước ngoài (8/2010); sửa đổi Nghị định 108 theo hướng tiếp tục để người Việt Nam định cư ở nước ngoài có quyền lựa chọn hình thức đầu tư như nhà đầu tư trong nước hoặc nhà đầu tư nước ngoài; Thông tư liên tịch về các quy định liên quan đến thủ tục xác nhận gốc Việt Nam và giải quyết vấn đề hai quốc tịch (3/2010).
Ngành ngoại giao cũng đã góp phần nâng cao năng lực của các địa phương và doanh nghiệp để HNKTQT hiệu quả hơn. Trong 5 năm qua, Ngành ngoại giao đã tranh thủ hợp tác, hỗ trợ quốc tế để tổ chức 50 lớp bồi dưỡng và nâng cao kiến thức về HNKTQT cho hàng nghìn cán bộ địa phương và doanh nghiệp ở trên 40 tỉnh thành trong cả nước, đồng thời phối hợp với các Bộ, ngành cung cấp và phổ biến thông tin, kiến thức về HNKTQT cho cộng đồng doanh nghiệp, từng bước nâng cao năng lực cạnh tranh và hội nhập cho các doanh nghiệp Việt Nam.
Một số phương hướng để nâng cao hiệu quả triển khai HNKTQT của ngành ngoại giao trong giai đoạn hội nhập quốc tế
Cục diện thế giới và khu vực thời gian tới dự báo sẽ có nhiều chuyển biến nhanh chóng, khó lường. Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu tuy đã “lắng dịu” song đã để lại những hệ lụy dài hạn đối với nền kinh tế toàn cầu, trong khi cuộc khủng hoảng nợ công Châu Âu có nguy cơ tiếp tục kéo dài. Quá trình tái cơ cấu các nền kinh tế và các thể chế kinh tế, tài chính được đẩy mạnh dưới tác động của sự phát triển mạnh mẽ của khoa học – công nghệ. Cạnh tranh về các nguồn lực trên quy mô toàn cầu và khu vực ngày càng gay gắt. Những thay đổi sâu sắc của tương quan sức mạnh các nền kinh tế đã góp phần thúc đẩy sự gia tăng của xu hướng hội nhập, liên kết kinh tế và tập hợp lực lượng ở các cấp độ từ song phương, khu vực đến liên khu vực và đa phương, với nội dung ngày càng sâu rộng, liên quan cả kinh tế, thương mại, văn hóa, xã hội, v.v…
Nước ta đang đẩy mạnh việc triển khai chủ trương tích cực và chủ động hội nhập quốc tế của Đại hội Đảng lần thứ XI. Với chủ trương này, tiến trình hội nhập quốc tế của nước ta không còn chỉ giới hạn trong lĩnh vực kinh tế mà sẽ được mở rộng ra các lĩnh vực từ văn hóa, xã hội đến khoa học, công nghệ, an ninh, quốc phòng… Tuy nhiên, HNKTQT sẽ đóng vai trò then chốt, là nền tảng, tiền đề cho hội nhập quốc tế giai đoạn tới. HNKTQT sẽ cùng với hội nhập và mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác góp phần tăng thế và lực cho đất nước trong cục diện mới đang định hình, góp phần triển khai hiệu quả đường lối đối ngoại của nước ta, tiếp tục tranh thủ các nguồn lực quốc tế để phát triển đất nước và đưa Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020.
Trong bối cảnh đó và trên cơ sở phát huy những thành quả của công tác ngoại giao triển khai HNKTQT trong những năm qua, để nâng cao hiệu quả HNKTQT trong những năm tới, ngành ngoại giao cần triển khai các phương hướng lớn sau:
Trước tiên, ngành ngoại giao cần lấy nội dung “triển khai HNKTQT” làm một trong những nội dung trọng tâm trong các hoạt động đối ngoại. Ngoại giao phục vụ kinh tế từ lâu nay đã là một nhiệm vụ quan trọng của ngành, tuy nhiên, trong xu thế toàn cầu hóa và HNKTQT ngày càng sâu rộng, nhiệm vụ này cần đẩy mạnh hơn nữa nhằm tận dụng tối đa các nguồn lực bên ngoài, cùng với phát huy nội lực để phục vụ việc thực hiện các nhiệm vụ tái cơ cấu nền kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng, tập trung thực hiện ba đột phá của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 – 2020 về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển cơ sở hạ tầng đồng bộ, hiện đại và phát triển mạnh nguồn nhân lực, đặc biệt nhân lực chất lượng cao.
Hai là, ngành ngoại giao cần tiếp tục đẩy mạnh và nâng cao chất lượng công tác nghiên cứu, nâng cao năng lực dự báo và tham mưu để góp phần đề xuất các chính sách hội nhập quốc tế và HNKTQT hiệu quả hơn. Muốn vậy, ngành ngoại giao cần phát huy hơn nữa vai trò của mạng lưới các cơ quan đại diện ở ngoài nước để tăng cường khai thác thông tin về các xu hướng kinh tế, thương mại, tập hợp lực lượng và liên kết kinh tế… từ các viện nghiên cứu, trường đại học và giới học giả quốc tế và khu vực.
Ba là, ngành ngoại giao cần tiếp tục thúc đẩy sự tham gia hiệu quả hơn của nước ta tại các cơ chế, diễn đàn hợp tác kinh tế, thương mại quốc tế, đặc biệt các cơ chế hợp tác ở khu vực châu Á – Thái bình dương. Muốn vậy, ngành ngoại giao cần phát huy khả năng sáng tạo, ứng biến linh hoạt trong đề xuất các sáng kiến tăng cường hợp tác; tích cực hơn trong tham gia các hoạt động lớn; đóng góp xây dựng các nội dung hợp tác và văn kiện quan trọng và góp phần thúc đẩy đồng thuận chung về những là quan tâm, ưu tiên của các thành viên tại khuôn khổ các cơ chế, diễn đàn mà nước ta tham gia; tiếp tục phát huy vai trò đầu tầu trong các cơ chế khu vực và tiểu khu vực, đặc biệt trong những vấn đề có lợi ích sát sườn với nước ta như biến đổi khí hậu, bảo vệ môi trường.
Bốn là, cần xây dựng kế hoạch dài hạn và bài bản nhằm đào tạo và nâng cao chất lượng của đội ngũ cán bộ làm công tác HNKTQT đáp ứng các yêu cầu của giai đoạn HNKTQT mới. Con người luôn là yếu tố quyết định thành bại của mọi việc. Do đó, để triển khai thành công các chính sách HNKTQT và hội nhập quốc tế trong thời gian tới, việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ ngoại giao phục vụ hội nhập quốc tế là then chốt. Đội ngũ cán bộ ngoại giao thời gian tới sẽ phải đáp ứng các tiêu chí: có bản lĩnh chính trị, tư tưởng vững vàng, năng động, chuyên nghiệp, có khả năng nắm bắt nhanh những vấn đề mới và tác chiến độc lập, hướng tới đạt trình độ ngang tầm khu vực và từng bước vươn lên tiếp cận trình độ quốc tế.
Cuối cùng, ngành ngoại giao cần tiếp tục thúc đẩy các nỗ lực phổ biến thông tin, kiến thức về HNKTQT nhằm thúc đẩy chuẩn bị trong nước và nâng cao năng lực HNKTQT của các doanh nghiệp, địa phương và toàn xã hội. Đây là yếu tố then chốt để đảm bảo cho nước ta tận dụng tốt nhất các cơ hội của tiến trình HNKTQT. Để triển khai tốt nhiệm vụ này, ngành ngoại giao cần tăng cường huy động các nguồn tài trợ quốc tế và tăng cường phối hợp với các Bộ, ngành, từ Trung ương đến địa phương, các hiệp hội doanh nghiệp và ngành hàng, triển khai các chương trình nhằm nâng cao hiểu biết của các địa phương, doanh nghiệp, các tầng lớp nhân dân về HNKTQT, tạo đồng thuận xã hội để HNKTQT phục vụ tốt nhất mục tiêu đưa đất nước cơ bản trở thành một nước công nghiệp hiện đại vào năm 2020./.
Thứ trưởng Ngoại giao Bùi Thanh Sơn
Hà Nội, tháng 4/2012