Hoạt động đối ngoại của Việt Nam

Tin tức

Sở Ngoại vụ Thành phố Hồ Chí Minh

Đơn vị trực thuộc Bộ Ngoại giao Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Na

Phát biểu của Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh về việc triển khai chủ trương chủ động và tích cực hội nhập quốc tế của Đại hội Đảng lần thứ XI tại Hội nghị toàn quốc đánh giá thực hiện Nghị quyết 08-NQ/TƯ và Nghị quyết 16/2007/NQ-CP

(Trung tâm Hội nghị Quốc gia, Hà Nội, ngày 14/08/2012)

Kính thưa Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng,
Kính thưa Đồng chí Lê Hồng Anh, Thường trực Ban Bí thư,
Thưa toàn thể Hội nghị,

Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020 đã nêu rõ chủ trương “triển khai đồng bộ, toàn diện hoạt động đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế”.

Đây là quyết sách chính trị quan trọng, là định hướng mới trong đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta khi đất nước bước sang thời kỳ chiến lược mới, phản ánh bước phát triển mới trong tư duy đối ngoại của Đảng trên cơ sở nhận thức sâu sắc về các xu thế lớn của thời đại và thực tiễn cách mạng nước ta, phù hợp với thế và lực mới của đất nước, đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp phát triển và bảo vệ Tổ quốc.

Bộ Ngoại giao xin báo cáo 3 nội dung lớn sau:

Thứ nhất, một số vấn đề quan trọng liên quan đến việc triển khai chủ trương hội nhập quốc tế của Đại hội Đảng lần thứ XI.

Thứ hai, kiểm điểm một số công việc lớn liên quan đến triển khai chủ trương hội nhập quốc tế từ sau Đại hội Đảng XI đến nay.

Thứ ba, một số nội dung quan trọng được kiến nghị trong dự thảo Nghị quyết của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế.

Phần I. Về một số vấn đề quan trọng liên quan việc “triển khai đồng bộ, toàn diện hoạt động đối ngoại; chủ động, tích cực hội nhập quốc tế”:

Chúng tôi xin tập trung vào ba vấn đề sau:

1. Thứ nhất, chúng ta chuyển từ “chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác” sang chủ trương “triển khai đồng bộ, toàn diện hoạt động đối ngoại; chủ động, tích cực hội nhập quốc tế” xuất phát từ các yêu cầu khách quan và chủ quan mang tính tất yếu sau:

- Một là,  hội nhập quốc tế là một yêu cầu khách quan đối với nước ta. Bởi vì, hoà bình, hợp tác và phát triển tiếp tục là xu thế lớn trong quan hệ quốc tế, cục diện thế giới đa cực, đa trung tâm ngày càng rõ nét, và toàn cầu hóa phát triển sâu rộng trên mọi mặt của đời sống nhân loại. Hội nhập, hợp tác trên các lĩnh vực đan xen, bổ trợ lẫn nhau, không thể tách rời. Hội nhập trên lĩnh vực chính trị và sự hỗ trợ của các quan hệ văn hoá, xã hội tạo môi trường thuận lợi cho hội nhập kinh tế.

- Hai là, thế và lực của đất nước sau 25 năm Đổi mới đã được nâng lên rất  nhiều, ta đã có đủ điều kiện để tham gia hội nhập toàn diện. Trong những năm qua, với đường lối “chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác”, ta đã tranh thủ được các điều kiện quốc tế thuận lợi để phục vụ các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hóa – hiện đại hóa, bảo vệ Tổ quốc và nâng cao vị thế quốc tế của đất nước. Ta đã giữ vững ổn định chính trị, kinh tế phát triển, đối ngoại mở rộng, gia nhập WTO, thực hiện AFTA, đăng cai tổ chức các Hội nghị Cấp cao ASEM và APEC, đảm nhiệm thành công cương vị Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và Chủ tịch ASEAN 2010. Đồng thời, chúng ta tham gia tích cực và đóng góp với tinh thần trách nhiệm cao vào giải quyết các vấn đề chung cấp bách của khu vực và thế giới như biến đổi khí hậu, phát triển bền vững, an ninh lương thực, an ninh nguồn nước, an ninh hạt nhân... Ta đã thu được nhiều kinh nghiệm, đội ngũ cán bộ trưởng thành thêm một bước. Có thể nói, trên thực tế, ta đã từng bước hội nhập trên các lĩnh vực và sẵn sàng bước sang giai đoạn hội nhập toàn diện.

- Ba là, tình hình thế giới biến chuyển nhanh chóng, đất nước đang có những cơ hội, song cũng đứng trước nhiều thách thức về phát triển và an ninh. Tình hình và tương quan lực lượng ở khu vực và trên toàn cầu đang diễn ra những chuyển dịch sâu sắc, trong khi các quốc gia đều đang nỗ lực cơ cấu lại nền kinh tế trong nước và điều chỉnh chính sách đối ngoại theo hướng gia tăng liên kết, tập hợp lực lượng để có vai trò trong cục diện đang định hình. Do đó, chỉ có thông qua hội nhập quốc tế toàn diện, ta mới có thể tranh thủ tốt hơn những cơ hội và ứng phó hiệu quả hơn với các thách thức về an ninh và phát triển, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, để tạo ra thế và lực cho đất nước trong giai đoạn mới. Hội nhập quốc tế trên tất cả các lĩnh vực mang đến cho chúng ta nhiều cơ hội, gia tăng mức độ đan xen lợi ích, từng bước đưa đất nước trở thành bộ phận hữu cơ của khu vực và thế giới.

2. Thứ hai, hội nhập toàn diện cũng đặt ra cho chúng ta không ít thách thức mới và làm tăng khả năng nước ta chịu tác động tiêu cực từ các diễn biến bên ngoài.

Tác động tiêu cực từ các diễn biến bên ngoài sẽ gia tăng. Những bất ổn không chỉ về kinh tế mà cả về an ninh, chính trị, xã hội từ bên ngoài sẽ nhanh chóng tác động tới nước ta; các loại tội phạm xuyên biên giới như: Buôn bán ma túy, rửa tiền, thâm nhập tiền giả, tài liệu phản động, văn hóa phẩm không lành mạnh và các thách thức an ninh phi truyền thống khác có thể gây tác hại đến mọi mặt của an ninh quốc gia, từ an ninh kinh tế đến an ninh chính trị xã hội. Phạm vi và tốc độ lây lan của các cú sốc từ bên ngoài cũng gia tăng.

Ðồng thời, yêu cầu bổ sung và hoàn thiện thể chế; cải cách và hiện đại hóa nền hành chính quốc gia, phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nhân lực chất lượng cao, v.v... sẽ ngày càng lớn.

Theo đó, để giảm các tác động tiêu cực và khai thác tối đa các cơ hội từ hội nhập quốc tế, nội hàm và lộ trình của hội nhập trong các lĩnh vực chính trị, quốc phòng, an ninh và văn hóa-xã hội cần phải được xác định phù hợp với thế, lực của đất nước và bối cảnh tình hình đất nước sao cho hội nhập quốc tế phục vụ hiệu quả nhất mục tiêu phát triển, bảo vệ Tổ quốc XHCN và vị thế quốc gia.

3. Thứ ba, về những nội dung chủ yếu của hội nhập quốc tế toàn diện:

Qua thực tiễn của công cuộc Đổi mới nước ta và kinh nghiệm các nước, hội nhập quốc tế được triển khai trên tất cả các lĩnh vực, song tựu chung lại có 4 lĩnh vực quan trọng nhất là Kinh tế, Chính trị, Quốc phòng-An ninh và các lĩnh vực khác, và cần được triển khai đồng bộ và toàn diện.

- Hội nhập kinh tế quốc tế (HNKTQT) trong giai đoạn mới là quá trình thực hiện hiệu quả các cam kết HNKTQT, chuẩn bị các điều kiện cần thiết để HNKTQT ở cấp độ cao hơn, phù hợp với khả năng của đất nước và xu thế phát triển của kinh tế khu vực và thế giới . Nội dung là tạo chuyển biến về chất, đưa các mối quan hệ kinh tế vào chiều sâu, tăng cường lợi ích đan xen, phục vụ thiết thực cho Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020, tập trung vào 3 khâu đột phá chiến lược, các trọng tâm tái cấu trúc kinh tế và chuyển đổi mô hình phát triển.  Thời gian 5-10 năm tới có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển và định vị nước ta, là giai đoạn ta phải hoàn tất các cam kết kinh tế quốc tế đã thỏa thuận và đang đàm phán, về song phương và cả đa phương, nhất là làm sâu sắc quan hệ kinh tế với các đối tác, đặc biệt là các đối tác chiến lược và có tầm chiến lược, đồng thời thực hiện các cam kết gia nhập WTO và trong các khuôn khổ hợp tác, kết nối ASEAN và ASEAN với các đối tác. Với việc khởi động các đàm phán khu vực mậu dịch tự do trong năm nay, lần đầu tiên ta sẽ tiến hành đồng thời 5 đàm phán với các đối tác kinh tế - thương mại hàng đầu như với Hoa Kỳ thông qua đàm phán Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), Liên minh thuế quan Nga - Belarus - Kazakztan, EU, Hàn Quốc và Khối mậu dịch tự do Châu Âu (EFTA). 

- Hội nhập trên lĩnh vực chính trị:  là việc đưa quan hệ của ta với các nước đi vào chiều sâu, trong đó có quan hệ chính trị, đồng thời tham gia chủ động, phát huy vai trò và  đóng góp thiết thực đối với các vấn đề, quan tâm chung tại các diễn đàn chính trị, an ninh khu vực và quốc tế. Nội dung là tham gia vào quá trình hợp tác và đấu tranh trên các vấn đề liên quan tới chính trị, an ninh, chủ quyền và vị thế của Việt Nam với các đối tác/đối tượng ở khu vực và trên thế giới. Đây còn là quá trình Việt Nam khẳng định là thành viên có trách nhiệm với các vấn đề chung của khu vực và thế giới, qua đó nâng cao vị thế, tiếng nói của ta, và từ đó góp phần vào các nỗ lực xây dựng lòng tin với các nước trong cộng đồng quốc tế.

- Hội nhập về quốc phòng, an ninh: là quá trình tham gia tích cực vào các cơ chế đối thoại, giao lưu, hợp tác quốc phòng, an ninh song phương và đa phương, phù hợp với tư duy mới về bảo đảm an ninh quốc gia, khai thác hiệu quả các nguồn lực và vị thế quốc tế của đất nước nhằm phục vụ mục tiêu bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Thông qua các hoạt động hội nhập, hợp tác quốc phòng, an ninh để hỗ trợ nâng cao năng lực bảo vệ tổ quốc, xây dựng lòng tin và tăng cường quan hệ với các đối tác, góp phần củng cố môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.

- Hội nhập về văn hoá – xã hội, giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, y tế và các lĩnh vực khác: là quá trình tiếp thu các giá trị và tri thức văn hoá, xã hội tiến bộ, các thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến nhằm phục vụ hiệu quả hơn sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời phát huy các giá trị và tri thức Việt Nam, đóng góp vào sự phát triển văn hóa - xã hội của khu vực và thế giới. Hình thức là sự thúc đẩy các hợp tác song phương, sự tham gia của Việt Nam vào các tổ chức, diễn đàn đa phương trên các lĩnh vực liên quan. Nội dung là tạo ra các đột phá quan trọng, lồng ghép hội nhập quốc tế với quá trình xây dựng và triển khai các chiến lược phát triển văn hóa, khoa học - công nghệ, giáo dục đào tạo, thể thao, an sinh xã hội, lao động v.v...; thực hiện các cam kết và đóng góp vào việc sửa đổi, hoàn thiện, xây dựng mới các chuẩn mực, sáng kiến của các tổ chức quốc tế mà ta là thành viên, góp phần tích cực vào nỗ lực quốc tế trong việc ứng phó với những vấn đề liên quan ở khu vực và trên toàn cầu.

Phần II. Về triển khai chủ trương hội nhập quốc tế từ sau Đại hội Đảng XI đến nay, Bộ Ngoại giao xin báo cáo Hội nghị một số công việc lớn đã được triển khai như sau:

1. Thứ nhất, các bộ, ngành tham mưu giúp Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị 01/CT-TTg ngày 9/01/2012 về một số biện pháp triển khai chủ trương chủ động và tích cực hội nhập quốc tế:

- Chỉ thị 01/CT-TTg đã giao cho các Bộ, ngành, địa phương một số nhiệm vụ cấp bách cần thực hiện ngay, với lộ trình và thời hạn hoàn thành cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả các mảng công việc của hội nhập quốc tế và phục vụ việc xây dựng các định hướng chiến lược của Đảng về hội nhập quốc tế. Nhiệm vụ chủ yếu là:

(i) Tổ chức quán triệt sâu rộng, thống nhất nhận thức trong cán bộ, đảng viên, các tầng lớp nhân dân về Nghị quyết của Đại hội Đảng lần thứ XI, trong đó có đường lối đối ngoại và chủ trương hội nhập quốc tế, về cơ hội và thách thức đặt ra đối với tiến trình hội nhập của đất nước trong giai đoạn mới;

(ii) Giao các Bộ, ngành tổng kết, đánh giá quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực do phụ trách trong 10 năm qua; trên cơ sở đó, đề xuất, xây dựng các định hướng, chiến lược, chính sách lớn về HNQT và HNKTQT trong thời gian tới;

(iii) Giao Bộ Ngoại giao chủ trì, phối hợp đề xuất, kiến nghị Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết về hội nhập quốc tế, và chịu trách nhiệm tổng hợp tình hình, định kỳ hàng năm báo cáo Thủ tướng kết quả thực hiện.

Sau hơn 8 tháng triển khai Chỉ thị, các Bộ, ngành, địa phương đã có nhiều cố gắng, nỗ lực triển khai kế hoạch hội nhập của ngành, địa phương mình, đồng thời phối hợp chặt chẽ triển khai các nhiệm vụ chung.

2. Thứ hai, đã tổ chức, triển khai mạnh mẽ ở mọi cấp việc quán triệt đường lối đối ngoại và chủ trương hội nhập quốc tế của Đại hội XI: 

- Ngay sau Đại hội XI của Đảng, công tác quán triệt đường lối đối ngoại và chủ trương hội nhập quốc tế đã được chủ động triển khai rộng khắp trên cả nước. Tổng cộng đã tổ chức được 23 lớp quán triệt, giới thiệu về đường lối đối ngoại của Đại hội XI đến hơn 2000 cán bộ chủ chốt của các Bộ ngành, cơ quan trung ương, các cơ quan thông tấn, báo chí, các tổng công ty và tập đoàn kinh tế nhà nước 1.

Các lớp bồi dưỡng, hội nghị báo cáo viên về đối ngoại, hội nhập quốc tế đã được triển khai tại nhiều địa phương. Các lớp quán triệt đã giới thiệu về cơ sở lý luận, thực tiễn và các nội hàm mới trong đường lối đối ngoại Đại hội XI, nhất là chủ trương "chủ động, tích cực hội nhập quốc tế", cơ hội, thách thức và những yêu cầu mới của hội nhập quốc tế. Theo yêu cầu và đặc thù từng cơ quan, các báo cáo viên còn đi sâu giới thiệu về các vấn đề khác có liên quan như tình hình thế giới, khu vực và công tác đối ngoại, công tác biên giới lãnh thổ, thống nhất quản lý đối ngoại, công tác người Việt Nam ở nước ngoài, thông tin tuyên truyền đối ngoại..., góp phần nâng cao nhận thức chung về các vấn đề đối ngoại và hội nhập quốc tế.

- Các đợt quán triệt nói trên đã thu được những kết quả quan trọng. Những nội dung mới của đường lối đối ngoại và hội nhập quốc tế đã được quán triệt đầy đủ đến mọi cơ quan thuộc hệ thống chính trị, nhất là đến đội ngũ cán bộ phụ trách và trực tiếp làm công tác đối ngoại. Sự đổi mới phương pháp theo hướng khuyến khích tinh thần chủ động của các học viên trong nghiên cứu, học tập Nghị quyết đã nâng cao hiệu quả các đợt quán triệt. Bộ Ngoại giao đánh giá cao sự phối hợp của các Bộ, ngành, địa phương và sự tham gia nghiêm túc, nhiệt tình, chủ động của các học viên.

3. Thứ ba, Bộ Ngoại giao đã chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành và địa phương xây dựng Báo cáo tổng kết, đánh giá quá trình triển khai HNKTQT và mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác trong 10 năm qua:

Trước hết, Bộ Ngoại giao xin bày tỏ sự cám ơn và đánh giá cao các Bộ, ngành và địa phương đã tích cực đóng góp cho việc xây dựng Báo cáo tổng kết. Nhiều tư liệu có chất lượng tốt, nhất là báo cáo của các Bộ ngành chủ chốt về hội nhập; tuy nhiên một số báo cáo còn chưa sâu và thực chất. Kết quả tổng hợp các đóng góp của các Bộ, ngành và địa phương đã cho thấy ý nghĩa và tính đúng đắn của Nghị quyết 07 của Bộ Chính trị về HNKTQT, đã mang lại những thành tựu quan trọng trong 10 năm qua. Xin báo cáo Hội nghị một số nội dung chính của Báo cáo như sau:

Về kết quả: 

Một là, quá trình HNKTQT đã góp phần mang lại nhiều kết quả quan trọng: (i) Tư duy phát triển của kinh tế Việt Nam có những bước chuyển quan trọng ở cả khu vực nhà nước và tư nhân; (ii) Thể chế kinh tế thị trường theo định hướng XHCN ngày càng hoàn chỉnh, hệ thống pháp lý ngày một hài hòa với các quy định, tiêu chuẩn quốc tế; (iii) Tranh thủ được nguồn vốn đầu tư, viện trợ và kiều hối, đưa cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực theo hướng gia tăng tỉ trọng công nghiệp, dịch vụ và sản phẩm có giá trị gia tăng cao; (iv) Vị thế và tiềm năng kinh tế quốc tế của nước ta được cải thiện và đánh giá cao. Xét tổng thể, HNKTQT đã góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế xã hội và gia tăng sức mạnh tổng hợp của quốc gia.

Hai là, việc thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại rộng mở, chính sách đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế đã đưa quan hệ giữa nước ta với các nước ngày càng đi vào chiều sâu, ổn định, quan hệ với nhiều đối tác quan trọng được nâng thành đối tác chiến lược, hợp tác quốc phòng – an ninh không ngừng được mở rộng, góp phần củng cố môi trường quốc tế thuận lợi cho sự nghiệp phát triển kinh tế, bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và nâng cao vị thế quốc tế của Việt Nam.

Ba là, mở rộng hợp tác quốc tế trong lĩnh vực văn hóa – xã hội đã góp phần vào công cuộc xóa đói giảm nghèo và giải quyết các vấn đề an sinh - xã hội của nước ta, thúc đẩy và tăng cường sự hiểu biết của cộng đồng quốc tế về văn hóa, con người và đất nước Việt Nam, đồng thời giúp chúng ta chủ động tiếp thu có chọn lọc tinh hoa của nền văn minh nhân loại.

Bốn là, các địa phương đã phối hợp chặt chẽ với các các Bộ ngành, có những đóng góp quan trọng, chủ động và thực chất vào quá trình HNKTQT và mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực. Một số tỉnh thành chủ động khởi xướng và triển khai hoạt động hội nhập, hợp tác ở cấp độ địa phương với quốc tế đạt những kết quả tích cực.

Về hạn chế, quá trình hội nhập cũng đã bộc lộ những hạn chế. Một là, chủ trương hội nhập chưa được quán triệt sâu rộng, dẫn đến chưa tạo thành sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị trong triển khai hội nhập quốc tế. Hai là, cơ chế chỉ đạo, điều hành còn bất cập, cơ chế rà soát và giám sát thực hiện còn thiếu hoặc chưa hiệu quả, nên việc triển khai hội nhập chưa đồng bộ, còn lúng túng, thiếu hiệu quả, chưa khuyến khích sự tham gia tích cực của địa phương, doanh nghiệp và người dân. Ba là, các cấp, các ngành, các doanh nghiệp ta chưa chủ động tranh thủ tối đa những cơ hội mới mở ra trong HNKTQT, chưa thấy được đầy đủ những thách thức mới nảy sinh để có biện pháp ứng phó hữu hiệu; thể chế kinh tế thị trường, chất lượng nguồn nhân lực và kết cấu hạ tầng chậm được cải thiện; năng lực cạnh tranh vẫn còn thấp; năng lực đội ngũ cán bộ và doanh nghiệp chưa ngang tầm với yêu cầu hội nhập; chưa tạo được sự liên kết giữa các vùng, miền trong toàn quốc, sự chênh lệch về phát triển giữa các khu vực gia tăng. Bốn là, hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác không ngừng được mở rộng song chưa có được chiều sâu cần thiết, chưa tạo nên tác động tích cực cho HNKTQT và khai thác hiệu quả các cơ hội trong lĩnh vực này; các khuôn khổ hợp tác được xác lập với nhiều nước chưa được bổ sung nội hàm phong phú và thiết thực; chưa tạo dựng được mối quan hệ tùy thuộc lẫn nhau vững chắc với các đối tác; trong các tổ chức đa phương mà nước ta tham gia chưa phát huy được vai trò tích cực, chủ động ngang tầm với vị thế mới của Việt Nam.

4. Thứ tư, Bộ Ngoại giao đang cùng các Bộ, Ban, ngành và địa phương, doanh nghiệp hoàn thiện dự thảo Nghị quyết của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế:

Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, công tác xây dựng Nghị quyết được triển khai rất chủ động, khẩn trương. Kế hoạch này đã được Văn phòng Trung ương đưa vào chương trình làm việc của Bộ Chính trị, Ban Bí thư năm 2012. Đến nay, ngoài các cuộc họp của Ban Soạn thảo liên ngành, đã có 3 cuộc tọa đàm khoa học được tổ chức với sự tham dự của hơn 100 học giả và các nhà hoạch định chính sách nhằm làm rõ các vấn đề lý luận, thực tiễn và định hướng hội nhập quốc tế của nước ta giai đoạn tới. 3 cuộc hội thảo khác ở Hà Nội, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chi Minh đã tiếp thu đóng góp của 63 tỉnh, thành phố, nhất là lãnh đạo và các cán bộ trực tiếp làm đối ngoại và hội nhập ở địa phương. Quá trình xây dựng Nghị quyết cho thấy đã có sự đồng thuận cao về tầm vóc, ý nghĩa mang tính đột phá của chủ trương “chủ động, tích cực hội nhập quốc tế” và nhu cầu cấp thiết phải ban hành một Nghị quyết mới của Đảng nhằm kịp thời đưa ra những định hướng chiến lược và xây dựng sự thống nhất trong nhận thức và hành động của toàn bộ hệ thống chính trị về hội nhập quốc tế trong những năm tới nhằm phục vụ đắc lực sự nghiệp phát triển và bảo vệ vững chắc Tổ quốc XHCN.

Phần III. Một số nội dung quan trọng được kiến nghị trong dự thảo Nghị quyết của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế:

Bộ Ngoại giao xin thay mặt Ban soạn thảo báo cáo Thủ tướng Chính phủ và Hội nghị một số nội dung quan trọng được kiến nghị trong dự thảo Nghị quyết của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế.

Thứ nhất, về mục tiêu hội nhập quốc tế, cần xác định rõ, hội nhập quốc tế của nước ta trong giai đoạn chiến lược mới là nhằm: góp phần thúc đẩy sự phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, nâng cao đời sống nhân dân; giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; quảng bá hình ảnh của Việt Nam, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc; xác lập và nâng cao vị trí của đất nước ở khu vực và trên phạm vi toàn cầu; góp phần tích cực vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới.

Theo đó, hội nhập quốc tế cần hướng tới ba mục tiêu cụ thể sau:

- Một là, xác lập vị trí cao hơn trong chuỗi sản xuất và phân phối toàn cầu; tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài, nhất là công nghệ tiên tiến để đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

- Hai là, tạo dựng mối quan hệ bền vững và gia tăng mức độ gắn kết, đan xen lợi ích giữa nước ta với các nước, nâng cao vai trò trong các tổ chức quốc tế, đóng góp thiết thực và hiệu quả hơn nữa cho sự nghiệp phát triển, giữ vững an ninh, độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước.

- Ba là, làm cho cộng đồng quốc tế hiểu sâu thêm về đất nước, con người và văn hóa Việt Nam; bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc; tiếp thu tri thức tiên tiến và tinh hoa văn hóa của nhân loại; xây dựng xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.

Thứ hai, để bảo đảm hội nhập quốc tế thành công, quan điểm chỉ đạo chung là: giữ vững đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, vì hòa bình, hợp tác và phát triển, chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế; quán triệt và vận dụng sáng tạo các bài học kinh nghiệm và giải quyết tốt các mối quan hệ lớn được tổng kết trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung và phát triển năm 2011); đồng thời chú trọng 6 quan điểm cụ thể sau:

- Một là, nhận thức rõ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế là định hướng chiến lược lớn của Đảng nhằm thực hiện nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; xây dựng sự đồng thuận sâu rộng trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, từ đó tạo nên sự chuyển biến căn bản trong nhận thức và hành động để thực hiện thành công định hướng chiến lược này.

- Hai là, hội nhập quốc tế là sự nghiệp vì nhân dân, do nhân dân, của nhân dân và của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước. Mọi cơ chế, chính sách phải phát huy tính chủ động, tích cực và khả năng sáng tạo của tất cả các tổ chức, cá nhân, khai thác hiệu quả các tiềm năng của toàn xã hội, của các tầng lớp nhân dân dân bao gồm cả cộng đồng người Việt Nam đang sinh sống và làm việc ở nước ngoài vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

- Ba là, hội nhập quốc tế cần được tiến hành trên cơ sở phát huy tối đa nội lực; gắn kết chặt chẽ và thúc đẩy quá trình hoàn thiện thể chế, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, hiện đại hóa kết cấu hạ tầng, nâng cao sức mạnh tổng hợp và khả năng cạnh tranh của đất nước; gắn kết chặt chẽ với quá trình gia tăng mức độ liên kết giữa các vùng, miền, khu vực trong nước.

- Bốn là, hội nhập kinh tế là trọng tâm, hội nhập trong các lĩnh vực khác phải tạo thuận lợi cho hội nhập kinh tế và góp phần tích cực vào việc bảo đảm an ninh quốc gia, thúc đẩy phát triển văn hóa, xã hội; hội nhập trong các lĩnh vực phải được thực hiện với lộ trình cụ thể, đồng bộ trong một chiến lược hội nhập quốc tế tổng thể, phù hợp với điều kiện thực tế và năng lực của đất nước.

- Năm là, cần nhận thức rõ cả hai mặt cơ hội và thách thức của hội nhập quốc tế với bản chất là quá trình vừa hợp tác vừa đấu tranh; kiên định lợi ích quốc gia, dân tộc; xử lý linh hoạt mọi tình huống, không để rơi vào thế bị động, đối đầu

- Sáu là, nghiêm chỉnh tuân thủ các cam kết quốc tế đi đôi với chủ động, tích cực tham gia xây dựng và tận dụng hiệu quả các quy tắc, luật lệ chung và tham gia các hoạt động của cộng đồng khu vực và quốc tế; chủ động đề xuất sáng kiến, cơ chế hợp tác trên nguyên tắc cùng có lợi; củng cố và nâng cao vai trò trong cộng đồng khu vực và quốc tế, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới.

Thứ ba, trong triển khai thực hiện Nghị quyết sau khi được Bộ Chính trị thông qua, cần chú trọng ba khâu sau:

- Một là, tuyên truyền sâu rộng trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân để tạo cho được sự đồng thuận cao về yêu cầu hội nhập quốc tế, các cơ hội và thách thức mới và các phương hướng và nhiệm vụ trọng yếu của hội nhập quốc tế trong từng ngành, từng lĩnh vực, từ đó có hành động thống nhất, tạo nên sức mạnh tổng hợp trong quá trình hội nhập.

- Hai là, xây dựng và triển khai chiến lược tổng thể về hội nhập quốc tế, trước mắt đến 2020, chú trọng việc đổi mới thể chế, phát triển nguồn nhân lực, hiện đại hóa kết cấu hạ tầng đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế.

- Ba là, xây dựng và hoàn thiện các văn bản pháp quy, thiết lập bộ máy đủ thẩm quyền và năng lực để chỉ đạo, điều hành, kiểm tra, giám sát và phối hợp các hoạt động hội nhập quốc tế; định rõ thẩm quyền và trách nhiệm của các cấp, các ngành từ trung ương đến địa phương trong các hoạt động hội nhập trên các lĩnh vực; đẩy mạnh và nâng cao chất lược công tác nghiên cứu dự báo.

Trên đây là ý kiến tổng hợp từ quá trình phối hợp với các bộ, ban, ngành địa phương, Bộ Ngoại giao xin báo cáo Hội nghị.

 

___________________________________________________________________

1 Trong 23 lớp quán triệt có 17 lớp quán triệt riêng cho 09 Bộ ngành, 01 lớp cho 150 cán bộ chủ chốt của 13 Bộ ngành không có điều kiện mở lớp riêng, 01 lớp cho 150 cán bộ chủ chốt (Tổng biên tập, Phó Tổng biên tập, Thư ký tòa soạn, Trưởng ban quốc tế) của gần 60 báo, đài lớn, 01 lớp cho hơn 150 cán bộ chủ chốt (Phó Tổng giám đốc, giám đốc chi nhánh, thành viên hội đồng quản trị, trưởng phó phòng) của 12 tập đoàn và 9 tổng công ty nhà nước.