Hoạt động đối ngoại của Việt Nam

Tin tức

Sở Ngoại vụ Thành phố Hồ Chí Minh

Đơn vị trực thuộc Bộ Ngoại giao Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Na

Quan hệ ASEAN - Các bên đối thoại không ngừng phát triển

Thời kỳ đầu hợp tác của ASEAN bó hẹp trong năm nước thành viên sáng lập Hiệp hội; từ năm 1974 mở rộng bao gồm cả các bên đối thoại. Quan hệ ASEAN với các bên đối thoại tiến triển nhanh, phù hợp lợi ích cả hai bên, ngày càng được thúc đẩy.

Thời kỳ đầu hợp tác của ASEAN bó hẹp trong năm nước thành viên sáng lập Hiệp hội; từ năm 1974 mở rộng bao gồm cả các bên đối thoại theo nguyên tắc không gây tổn hại quan hệ song phương hiện có; bổ sung chứ không làm mất đi khả năng sẵn có của ASEAN; tập trung vào các dự án do ASEAN xây dựng, mang tính khu vực và phải phục vụ lợi ích của tất cả các nước ASEAN; không có các điều kiện ràng buộc; có thể thực hiện các dự án ở ngoài khu vực ASEAN khi cần thiết và có sự nhất trí. Quan hệ ASEAN với các bên đối thoại tiến  triển nhanh, phù hợp lợi ích cả hai bên, ngày càng được thúc đẩy.

Trung Quốc bắt đầu quan hệ với ASEAN từ năm 1991, được công nhận là bên đối thoại đầy đủ của ASEAN tháng 7-1996; đã góp 700.000 USD lập Quỹ hợp tác ASEAN - Trung Quốc, lập Ủy ban hỗn hợp khoa học và công nghệ ASEAN - Trung Quốc để thúc đẩy hợp tác lĩnh vực này.

Năm 2002, Hai bên ký Hiệp định khung về hợp tác kinh tế toàn diện, thiết lập Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc (CAFTA) vào năm 2010 gồm 11 nền kinh tế với 1,7 tỷ người tiêu dùng, làm ra giá trị GDP 2.000 tỷ USD.

Nhật Bản có quan hệ đối tác với ASEAN từ năm 1973, lập Diễn đàn Nhật Bản - ASEAN năm 1997; đã cung cấp tài chính lập Quỹ văn hóa ASEAN; Chương trình trao đổi Nhật Bản - ASEAN; Quỹ học bổng dành cho thanh niên ASEAN; Chương trình Phát triển nguồn nhân lực và Chương trình Trao đổi kỹ thuật cho các nước ASEAN. Viện trợ dành cho lĩnh vực hợp tác chuyên ngành là 73 triệu USD. Lĩnh vực hợp tác ưu tiên gồm văn hóa, thông tin, phát triển nguồn nhân lực, khoa học công nghệ. Hai bên thỏa thuận hoàn tất Hiệp định Khu vực mậu dịch tự do - ASEAN - Nhật Bản (JAFTA) vào tháng 11-2007, thực hiện từ năm 2012.

Hàn Quốc có quan hệ kinh tế với ASEAN từ những năm 70 của thế kỷ 20; trở thành bên đối thoại chính thức của ASEAN năm 1991; góp tám triệu USD vào Quỹ Hợp tác ASEAN - Hàn Quốc giai đoạn 1990 - 1994. Trọng tâm hợp tác: giúp ASEAN thực hiện các dự án chuyển giao công nghệ, phát triển nguồn nhân lực, giao lưu văn hóa, nhà báo, học giả. Năm 2005, hai bên ký Hiệp định khung về hợp tác kinh tế toàn diện. FTA ASEAN - Hàn Quốc có hiệu lực tháng 7-2007, hình thành Khu vực mậu dịch tự do song phương vào 2009.

Ấn Ðộ có quan hệ đối thoại từng lĩnh vực với ASEAN từ năm 1980; trở thành bên đối thoại đầy đủ của ASEAN năm 1995 và thành lập Ủy ban hỗn hợp hợp tác ASEAN - Ấn Ðộ (AIJCC); hợp tác được mở rộng gồm thương mại, đầu tư, du lịch. Hai bên thỏa thuận đẩy nhanh đàm phán để hoàn tất FTA chậm nhất vào năm 2011.

LB Nga có quan hệ đối thoại với ASEAN từ năm 1991; trở thành bên đối thoại đầy đủ của ASEAN năm 1996. Nhóm Công tác Nga - ASEAN được thành lập năm 1997. Những lĩnh vực ưu tiên hợp tác: khoa học - công nghệ; môi trường, phát triển nguồn nhân lực, tiếp xúc nhân dân...

Tại Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN với các nước đối thoại (PMC) tại Manila mới đây, hai bên nhất trí khôi phục nỗ lực thực hiện Chương trình Hành động toàn diện nhằm thúc đẩy hợp tác ASEAN - Nga giai đoạn 2005 - 2015.

Australia, là nước công nghiệp đầu tiên lập quan hệ đối thoại chính thức với ASEAN, theo đó Diễn đàn ASEAN - Australia ra đời năm 1974. Theo Chương trình hợp tác kinh tế ASEAN - Australia (AAECP) nước này cung cấp 68,8 triệu dollar Australia cho hàng chục dự án hợp tác thuộc lĩnh vực khoa học, công nghệ, môi trường, dân số, giáo dục, đào tạo; ưu tiên hợp tác về môi trường, khoa học-công nghệ. Tại PMC ngày 1-8 vừa qua tại Manila, hai bên ký Tuyên bố chung về đối tác toàn diện và Kế hoạch Hành động triển khai Tuyên bố này giai đoạn 2007-2012 tạo khuôn khổ phát triển quan hệ đối thoại và mở rộng hợp tác giữa hai bên.

Canada có quan hệ đối thoại với ASEAN từ năm 1977; dành  cho ASEAN viện trợ kỹ thuật 19 triệu dollar Canada nhằm thực hiện các dự án khoa học-công nghệ, phát triển nhân lực, thông tin, văn hóa, phụ nữ. Tiếp theo Kế hoạch Hợp tác chung ASEAN - Canada (ACJCC) giai đoạn 2005 - 2007, tại PMC Manila vừa qua hai bên thông qua ACJCC giai đoạn 2007 - 2010.

New Zealand và ASEAN thiết lập quan hệ đối thoại năm 1975;   lập Ủy ban hợp tác chung ASEAN - New Zealand năm 1994; New Zealand hỗ trợ ASEAN thực hiện các dự án liên kết các cơ quan, tổ chức trong ASEAN, năng lượng, khoa học - công nghệ, ma túy, phát triển xã hội; đang triển khai Khuôn khổ hợp tác toàn diện ASEAN - New Zealand giai đoạn 2006 - 2010, đàm phán xây dựng FTA ASEAN - Australia - New Zealand (AANZFTA).

Mỹ và ASEAN có quan hệ đối thoại từ năm 1977; ký Thỏa thuận về quan hệ kinh tế năm 1990; về hợp tác phát triển, Mỹ dành viện trợ giúp ASEAN thực hiện các dự án chuyển giao công nghệ, phát triển nguồn nhân lực, môi trường; ưu tiên các lĩnh vực văn hóa, thông tin, phát triển nhân lực, khoa học-công nghệ; đang triển khai thực hiện Quan hệ đối tác tăng cường ASEAN - Mỹ.

EU có quan hệ đối thoại với ASEAN năm 1972; thiết lập quan hệ đối thoại chính thức năm 1977; ký Hiệp định hợp tác ASEAN - EC năm 1980. Viện trợ EU dành chủ yếu cho Chương trình liên kết các cơ quan tổ chức trong ASEAN, phát triển nguồn nhân lực, trao đổi khoa học - công nghệ, phát triển xã hội; ưu tiên các lĩnh vực ma tuý, môi trường, nông - lâm nghiệp, phát triển nhân lực. Hai bên nhất trí khởi động đàm phán về FTA bao gồm 37 nền kinh tế với hơn một tỷ người tiêu dùng. Tại PMC tại Manila, hai bên thông qua Kế hoạch Hành động triển khai Tuyên bố Nu-rem-béc về Ðối tác tăng cường ASEAN - EU; nhất trí tổ chức Hội nghị cấp cao kỷ niệm ASEAN - EU tại Singapore vào tháng 11-2007.

UNDP (Chương trình phát triển của LHQ) là bên đối thoại đa phương duy nhất của ASEAN triển khai chương trình giúp ASEAN từ năm 1972 thông qua Chương trình liên quốc gia (ICP) cho châu Á - Thái Bình Dương; năm 1977 hai bên lập Chương trình tiểu khu vực ASEAN - UNDP (ASP). UNDP giúp Hiệp hội thực hiện các dự án về môi trường, chuyển giao công nghệ, phát triển nguồn nhân lực, phát triển xã hội, văn hóa, thông tin, kiểm soát ma túy; ưu tiên cho các lĩnh vực khoa học-công nghệ, phát triển nguồn nhân lực, tăng cường năng lực.

Hợp tác có hiệu quả giữa ASEAN với các bên đối thoại nêu bật hình ảnh một ASEAN hướng tới liên kết, hội nhập, góp phần quan trọng củng cố hòa bình, ổn định của khu vực, nâng cao vị thế và vai trò của ASEAN trên trường quốc tế.

FTA của ASEAN

Hiệp định Thương mại khu vực (RTA) và Hiệp định Thương mại tự do (FTA) song phương là hình thức hợp tác thương mại hình thành trong gần một thập kỷ qua. Tính đến tháng 7-2005 thế giới có 330 RTA (năm 1995 mới có 206) được thông báo cho Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Ðến nay có hơn 180 RTA đang có hiệu lực.

Theo Trung tâm Nghiên cứu kinh tế - chính trị châu Âu và Trung tâm nghiên cứu kinh tế Nhật Bản, đến hết năm 2005, ASEAN có bảy FTA tập thể và 17 FTA riêng rẽ của các nước thành viên.

Ðến nay, ASEAN đã đang hoàn tất đàm phán FTA. Trong đó, FTA + 1 gồm:  FTA ASEAN - Trung Quốc (CAFTA) có hiệu lực vào năm 2010. FTA ASEAN - Nhật Bản (JAFTA) có hiệu lực vào năm 2012. FTA ASEAN - Hàn Quốc (SKAFTA) hình thành vào năm 2009. FTA ASEAN - Ấn Ðộ (IAFTA) hình thành vào năm 2011. FTA ASEAN + 3 có ASEAN với Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc. FTA ASEAN + 5: ASEAN - ba nước Ðông Bắc Á, Australia và New Zealand.

Các FTA song phương đã hoàn tất, đang đàm phán gồm:

Indonesia đang đàm phán với Nhật Bản, New Zealand và Australia.

Malaysia đã ký với Nhật Bản; đang đàm phán với Mỹ, Australia, New Zealand, Ấn Ðộ, Pakistan và Hàn Quốc.

Philippines đang đàm phán với Nhật Bản, Mỹ.

Singapore đã ký với New Zealand, Australia, Nhật  Bản, Mỹ, Jordan, Hàn Quốc, Ấn Ðộ, Qatar, Panama và một FTA gồm Singapore, Brunei, Chile và New Zealand; đang đàm phán với một số nước Mỹ La-tinh, Trung Ðông và Nam Á.

Thái-lan đã ký với Australia, New Zealand, Bahrain, Trung Quốc, Ấn Ðộ, Nhật Bản; đang đàm phán với Mỹ, Peru, Chile, Pakistan.

Việt Nam đã ký FTA với Mỹ; đang đàm phán với Nhật Bản và dự định xúc tiến đàm phán với một số đối tác kinh tế khác.(Nhân dân)