Kính thưa Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Gia Khiêm, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam,
Kính thưa các Quý vị Bộ trưởng Ngoại giao các nước Á - Âu,
Kính thưa các bạn và đồng nghiệp,
Thưa các quý bà, quý ông,
Thay mặt Bộ Tài nguyên và Môi trường nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, tôi rất vinh hạnh được tham dự và phát biểu tại Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao Á - Âu lần thứ 9 với chủ đề “Tăng cường quan hệ đối tác Á - Âu chặt chẽ hơn nhằm ứng phó với khủng hoảng kinh tế - tài chính và các thách thức toàn cầu” được tổ chức tại Thủ đô Hà Nội, Việt Nam trong tháng 5 này
Thưa toàn thể Quý vị,
Châu Á và Châu Âu có vị trí quan trọng đối với sự phát triển thế giới trong quá khứ, hiện tại và tương lai; là chiêc nôi của hai nền văn hóa Phương Đông và Phương Tây. Hợp tác, giao lưu giữa hai khu vực cho đến nay đang phát huy sức mạnh, mang lại lợi ích cho tất cả các quốc gia trong khu vực và cho sự phát triển chung của Thế giới trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, vì sự hòa bình và thịnh vượng chung. Sự hợp tác này đã đạt được những thành tựu to lớn trên mọi phương diện như khoa học, công nghệ, y tế, văn hóa, giáo dục… Đồng thời, hợp tác Á - Âu cũng giúp thế giới giải quyết một cách có hiệu quả những thách thức mang tính toàn cầu. Một trong những thách thức lớn nhất hiện nay đối với hành tinh của chúng ta đó là biến đổi khí hậu và các tác động đến đời sống của toàn nhân loại.
Thưa toàn thể Quý vị,
Các nghiên cứu và quan trắc gần đây của các nhà khoa học thế giới cho thấy Biến đổi khí hậu không chỉ còn là cảnh báo mà đã trở thành thực tế tác động ngày một mạnh mẽ lên mọi quốc gia, mọi khu vực.
Theo Báo cáo đánh giá lần thứ 4 của IPCC năm 2007 thì nhiệt độ trung bình toàn cầu đã tăng khoảng 0,74oC trong thời kỳ 1906 - 2005 và tốc độ tăng của nhiệt độ trong 50 năm nay đã tăng gần gấp đôi so với 50 năm trước đó. Trong 100 năm qua, lượng mưa có xu hướng tăng ở khu vực vĩ độ cao hơn 30o. Tuy nhiên, lượng mưa lại có xu hướng giảm ở khu vực nhiệt đới từ giữa những năm 1970. Hiện tượng mưa lớn có dấu hiệu tăng ở nhiều khu vực trên thế giới. Mực nước biển toàn cầu đã tăng trong thế kỷ 20 với tốc độ ngày càng cao. Số liệu quan trắc mực nước biển trong thời kỳ 1961- 2003 cho thấy tốc độ tăng của mực nước biển trung bình toàn cầu khoảng 1,8mm/năm. Số liệu đo đạc từ vệ tinh TOPEX/POSEIDON trong giai đoạn 1993 - 2003 cho thấy tốc độ tăng của mực nước biển trung bình toàn cầu khoảng 3,1 mm/năm (nhanh hơn đáng kể so với thời kỳ 1961 - 2003). IPCC dự báo mực nước biển bình quân có thể dâng 0,59m và không loại trừ có khả năng dâng cao hơn vào cuối thế kỷ 21. Một số nghiên cứu gần đây cho rằng mực nước biển toàn cầu có thể tăng 0,5 - 1,4m vào năm 2100.
Khu vực Đông Nam Á là khu vực bao gồm các quốc đảo và nhiều quốc gia nằm ở những vùng bờ biển thấp hoặc những vùng cửa sông, là khu vực đặc biệt dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu và mực nước biển dâng. Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới (2007) về tác động của nước biển dâng đối với 84 nước đang phát triển, Đông Á là khu vực sẽ bị tác động nghiêm trọng do mực nước biển dâng. Nếu nước biển dâng từ 1m đến 5m, thì 2,5-8,6% dân số bị tác động và thiệt hại đối với GDP từ 2,09%-10,02%. Theo đánh giá của Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) về mức thiệt hại trung bình do biến đổi khí hậu gây ra đối với 4 nước gồm In-đô-nê-xi-a, Phi-líp-pin, Thái Lan và Việt Nam, có thể tương đương 6,7% tổng giá trị GDP hàng năm của các nước này vào năm 2100, tức là gấp đôi mức thiệt hại trung bình trên thế giới. ADB cho rằng nếu không sớm cắt giảm lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính trên toàn cầu thì nhiệt độ trung bình tại khu vực Đông Nam Á sẽ tăng thêm 4,8oC trong thời gian từ năm 1990 đến năm 2100, khiến mực nước biển dâng cao thêm 0,7 m và hậu quả là sản lượng lúa của 4 nước trên có thể giảm tới 50%; một diện tích rừng lớn sẽ chuyển thành đất hoang.
Tại Việt Nam, các nhà khoa học trong và ngoài nước đã có nhiều công trình nghiên cứu và đều khẳng định, Việt Nam sẽ là một trong những nước sẽ chịu tác động mạnh mẽ nhất của Biến đổi khí hậu. Các kết quả đo đạc, quan trắc cũng cho thấy trong vòng 50 năm qua (1958-2007) nhiệt độ trung bình năm của Việt Nam đã tăng lên từ 0,5 - 0,7 độ C. Số đợt không khí lạnh ảnh hưởng tới Việt Nam giảm đi rõ rệt trong hai thập kỷ gần đây. Số cơn bão có cường độ mạnh nhiều hơn, quỹ đạo bão có dấu hiệu dịch chuyển dần về các vĩ độ phía nam và mùa bão kết thúc muộn hơn, nhiều cơn bão có đường đi dị thường hơn. Do tác động của Biến đổi khí hậu, hiện tượng triều cường trong 20-30 năm trước đây ít gặp ở Việt Nam nhưng hiện tại đã xảy ra thường xuyên và diễn biến rất phức tạp tại vùng Trung Trung Bộ, đồng bằng sông Cửu Long và Thành phố Hồ Chí Minh. Theo tính toán, đến năm 2100, nhiệt độ trung bình tại Việt Nam sẽ tăng khoảng trên 2¬,3oC, mực nước biển sẽ dâng khoảng 74cm. Đời sống của hàng chục triệu người dân Việt Nam khu vực ven biển sẽ bị ảnh hưởng trực tiếp, hai vựa lúa của Việt Nam cũng như của thế giới là đồng bằng Sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam sẽ bị tác động nghiêm trọng. Như vậy sẽ ảnh hưởng đến kết quả thực hiện xóa đói giảm nghèo của Việt Nam trong những năm qua và an ninh lương thực của toàn thế giới.
Thưa toàn thể quý vị,
Tại Hội nghị COP13 được tổ chức tại Bali, Indonesia trong thời gian 3-14 tháng 12 năm 2007, Lộ trình Bali đã được thông qua. Theo đó, các nước trên thế giới sẽ tham gia các cuộc đàm phán kéo dài trong vòng 2 năm nhằm thiết lập các mục tiêu mới về cắt giảm khí thải khi thời kỳ cam kết đầu tiên của Nghị định thư Kyoto kết thúc năm vào 2012.
Tại COP14 được tổ chức tại Poznan, Ba Lan năm 2008, các nhà đàm phán trên thế giới về biến đổi khí hậu đã đi được nửa chặng đường tới Copenhagen, đã thực hiện thành công với hơn 90 nội dung lớn và nhỏ khác nhau, chủ yếu là vấn đề hợp tác dài hạn và giai đoạn sau năm 2012.
Hội nghị COP15, tại Copenhagen, Đan Mạch vào cuối năm nay mang một ý nghĩa quan trọng, đánh dấu sự kết thúc giai đoạn đàm phán 2 năm kể từ Hội nghị COP 13 tại Bali. Các nước trên thế giới cần thống nhất được thỏa thuận quốc tế mới ứng phó với biến đối khí hậu dựa trên những yếu tố cơ bản của Kế hoạch hành động Bali bao gồm thích ứng với biến đổi khí hậu; giảm nhẹ biến đối khí hậu; tài chính và công nghệ. Các thỏa thuận này cần đạt được trên cơ sở tôn trọng những mục tiêu, nguyên tắc chung của Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu.
Thưa các quí vị đại biểu,
Hội nghị của chúng ta năm nay diễn ra trong bối cảnh toàn thế giới đang phải đối mặt với cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu tồi tệ nhất kể từ sau cuộc Đại khủng hoảng từ những năm 30 của Thế kỷ trước, toàn thế giới đang bắt tay nhau, chung sức để vượt qua. Tuy vậy, chúng ta cũng vẫn cần hợp tác với nhau thật chặt chẽ để giải quyết vấn đề nóng bỏng và lâu dài mà thế giới phải đối mặt hiện nay là biến đổi khí hậu. Tôi hoan nghênh và đánh giá cao việc Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEM lần này đã lựa chọn chủ đề là “Tăng cường quan hệ đối tác Á - Âu chặt chẽ hơn nhằm ứng phó với khủng hoảng kinh tế - tài chính và các thách thức toàn cầu”. Các chủ đề thảo luận tại Hội nghị là thiết thực và rất thời sự, góp phần quan trọng thúc đẩy hợp tác Á-Âu.
Tôi hy vọng rằng, tại Hội nghị lần này, các vị Bộ trưởng, các chuyên gia của các nước đến từ hai châu lục Á và Âu sẽ tập trung thảo luận, trao đổi kinh nghiệm, chia sẻ các ý tưởng mới và đưa ra những cách thức hợp tác hiệu quả góp phần giải quyết các thách thức toàn cầu, trong đó khủng hoảng kinh tế và biến đổi khí hậu là hai vấn đề trọng tâm.
Là một trong những nước đang ở giai đoạn đầu trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và sẽ phải chịu nhiều tác động nghiêm trọng nhất do biến đổi khí hậu, với truyền thống tự lập tự cường, Việt Nam đã, đang và sẽ làm hết sức mình để hoàn thành nghĩa vụ là một Bên của Công ước khí hậu theo nguyên tắc “trách nhiệm chung nhưng có phân biệt”. Việt Nam đã xây dựng và đang thực hiện nghiêm túc các tiêu chuẩn về môi trường, khuyến khích phát triển xanh và thực hiện các công nghệ thân thiện với môi trường, giảm phát thải khí nhà kính; Chủ động trong việc ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng (đã phê duyệt Chương trinh mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu và đang hoàn thiện các kịch bản về nước biển dâng của Việt Nam đến năm 2100), … Đồng thời cũng rất tích cực trong việc thúc đẩy các quan hệ trong khuôn khổ hợp tác, đối tác toàn diện Á - Âu. Tuy nhiên, Việt Nam cũng rất cần sự giúp đỡ của cộng đồng quốc tế, đặc biệt là của các nước thành viên ASEM trong vấn đề tài chính, chia sẻ kinh nghiệm, chuyển giao công nghệ, đặc biệt là các công nghệ thân thiện với môi trường và chuyên gia để ứng phó với biến đổi khí hậu.
Nhân dịp này, tôi chân thành cảm ơn và mong muốn tiếp tục nhận được sự ủng hộ và hợp tác quý báu của các thành viên ASEM và của cộng đồng quốc tế về mọi mặt, đặc biệt là sự ủng hộ, hợp tác trong việc giải quyết những thách thức toàn cầu hiện nay vấn đề biến đổi khí hậu./.
Chúc các quý vị sức khoẻ và hạnh phúc,
Chúc Hội nghị thành công tốt đẹp,
Trân trọng cảm ơn sự chú ý của các quý vị !