1. Nhận lời mời của Thủ tướng nước Cộng hòa Ấn Độ, Tiến sỹ Manmohan
Singh, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
Nguyễn Phú Trọng đã thăm cấp Nhà nước tới Ấn Độ từ ngày 19 đến ngày 22
tháng 11 năm 2013.
2. Tổng Bí thư đã hội kiến với Tổng thống Ấn Độ Pranab Mukherjee, Phó
Tổng thống Shri Hamid Ansari và Chủ tịch Hạ viện Meira Kumar. Thủ tướng
Mamonhan Singh đã hội đàm và chiêu đãi trọng thể Tổng Bí thư. Bộ trưởng
Ngoại giao Salman Khurshid và Lãnh đạo một số chính đảng ở Ấn Độ đã gặp
Tổng Bí thư. Lễ đón chính thức Tổng Bí thư đã diễn ra tại Phủ Tổng
thống, Tổng Bí thư đặt vòng hoa tại Đài tưởng niệm Mahatma Gandhi ở
Rajghat.
3. Tổng Bí thư thăm thành phố Mumbai, hội kiến với Thống đốc bang Maharashtra và gặp gỡ cộng đồng doanh nghiệp Ấn Độ.
4. Hai nhà lãnh đạo nhấn mạnh Việt Nam và Ấn Độ có những mục tiêu chung
về tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội một cách toàn diện và
khẳng định cùng có một tầm nhìn đáp ứng nguyện vọng của nhân dân hai
nước. Hai nhà lãnh đạo cũng ghi nhận hai quốc gia đều phải đối diện với
những thách thức giống nhau do suy thoái kinh tế toàn cầu, các mối đe
dọa của chủ nghĩa khủng bố và các vấn đề khác quốc tế khác. Thủ tướng
nhắc lại Việt Nam là trụ cột trong chính sách Hướng Đông của Ấn Độ; điều
này cũng nhận được sự nhất trí của Tổng Bí thư. Hai nhà lãnh đạo mong
muốn Ấn Độ có vai trò tích cực hơn ở khu vực và trên trường quốc tế.
5. Hai nhà lãnh đạo nhắc lại những đóng góp to lớn của cố Thủ tướng
Jawaharlal Nehru và Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với sự phát triển của tình
hữu nghị Việt Nam - Ấn Độ, mối quan hệ đó đã được các thế hệ lãnh đạo
hai nước gìn giữ và vun đắp; bày tỏ hài lòng đối với các cuộc tham vấn
thường xuyên ở tất cả các cấp, điều này đã giúp củng cố và mở rộng mối
quan hệ song phương.
6. Hai nhà lãnh đạo bày tỏ hài lòng về thành công của “Năm Hữu nghị Việt
Nam – Ấn Độ 2012” và cũng là dịp kỷ niệm 40 năm thiết lập quan hệ ngoại
giao đầy đủ và kỷ niệm 5 năm thiết lập quan hệ Đối tác Chiến lược giữa
hai nước. Nhiều sự kiện đã được tổ chức ở hai nước nhằm nâng cao nhận
thức của nhân dân hai nước về mối liên hệ giữa các nền văn minh Việt Nam
và Ấn Độ và phạm vi hợp tác giữa hai nước trong thế giới đương đại.
7. Hai nhà lãnh đạo nhấn mạnh rằng quan hệ hữu nghị Việt Nam - Ấn Độ đã
được thử thách qua thời gian, với lợi ích chung, tin cậy lẫn nhau và hợp
tác nhiều mặt. Về lợi ích chiến lược, hai bên nhất trí tăng cường và
làm sâu sắc quan hệ đối tác chiến lược giữa hai nước. Điều này sẽ góp
phần vào hòa bình, ổn định và thịnh vượng ở khu vực Châu Á - Thái Bình
Dương và rộng lớn hơn.
Cam kết chiến lược
8. Các chuyến thăm cấp cao gần đây của Tổng thống Ấn Độ năm 2008, Phó
Tổng thống năm 2013, Thủ tướng năm 2010 và Chủ tịch Hạ viện năm 2011;
Chủ tịch nước Việt Nam năm 2011, Phó Chủ tịch nước năm 2009, Chủ tịch
Quốc hội năm 2010 và Thủ tướng Chính phủ năm 2012 đã phản ánh tầm quan
trọng đối với việc tăng cường mối quan hệ song phương. Hai nhà lãnh đạo
quyết định tăng cường các cuộc trao đổi chính trị cấp cao bằng việc thúc
đẩy các chuyến thăm và các cuộc gặp gỡ song phương bên lề các sự kiện
khu vực và đa phương.
9. Hai nhà lãnh đạo hoan nghênh những kết quả và Kế hoạch Hành động đã
được thông qua tại cuộc họp Ủy ban Hỗn hợp lần thứ 15 tại New Dehli ngày
11 tháng 7 năm 2013 và đánh giá cao những đóng góp quan trọng của các
cơ chế song phương hiện có nhằm củng cố và mở rộng mối quan hệ song
phương hiện nay.
10. Hai nhà lãnh đạo hoan nghênh quyết định thực hiện trao đổi đoàn hàng
năm theo “Chương trình Khách quý” giữa Bộ Ngoại giao Ấn Độ và Ban Đối
ngoại Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam nhằm tăng cường hiểu biết, chia
sẻ kinh nghiệm và học hỏi lẫn nhau trên các lĩnh vực quản trị, chính
sách công, thách thức đối với phát triển và vấn đề tăng trưởng kinh tế.
11. Hai nhà lãnh đạo nhất trí rằng hợp tác quốc phòng đã trở thành trụ
cột quan trọng của quan hệ đối tác chiến lược giữa hai nước. Hai nhà
lãnh đạo hoan nghênh việc thường xuyên tiến hành đối thoại quốc phòng,
huấn luyện, tập trận, tầu Hải quân và Cảnh sát biển thăm viếng lẫn nhau,
nâng cao năng lực, trao đổi các cố vấn và giao lưu giữa các cơ quan
liên quan của hai nước những năm gần đây. Việc sử dụng khoản tín dụng
trong lĩnh vực quốc phòng giúp tăng cường hợp tác quốc phòng. Hai nhà
lãnh đạo đề nghị hai bên tiếp tục trao đổi về các điều khoản của khoản
tín dụng 100 triệu USD trong lĩnh vực quốc phòng để tạo thêm động lực
cho sự hợp tác sẵn có này. Hai bên hoan nghênh việc ký Thỏa thuận về Bảo
vệ Tương hỗ đối với Trao đổi Thông tin mật và Biên bản ghi nhớ hiện
đang được triển khai về đào tạo sỹ quan hải quân và không quân Việt
Nam.
12. Hai nhà lãnh đạo khẳng định mong muốn và quyết tâm hợp tác nhằm duy
trì hòa bình, ổn định, phát triển và thịnh vượng ở Châu Á; nhất trí cho
rằng tự do hàng hải ở Biển Đông không nên bị cản trở và kêu gọi các bên
liên quan kiềm chế, không sử dụng vũ lực hay đe dọa sử dụng vũ lực và
giải quyết tranh chấp thông qua các biện pháp hòa bình theo các nguyên
tắc của luật pháp quốc tế đã được thừa nhận rộng rãi, trong đó có Công
ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS). Hai nhà lãnh đạo cũng hoan
nghênh các cam kết chung của các bên liên quan về việc tuân thủ và thực
hiện Tuyên bố ứng xử của các Bên liên quan ở Biển Đông (DOC) năm 2002 và
sớm thông qua Bộ Quy tắc ứng xử của các bên ở Biển Đông (COC) trên cơ
sở đồng thuận. Hai nhà lãnh đạo kêu gọi hợp tác trong việc đảm bảo an
ninh các tuyến đường biển, an ninh hàng hải, chống cướp biển và tiến
hành các hoạt động tìm kiếm và cứu nạn.
13. Hai nhà lãnh đạo nhấn mạnh rằng hợp tác giữa hai bên đã được tăng
cường trong lĩnh vực an ninh và thực thi pháp luật. Hai nhà lãnh đạo
hoan nghênh việc ký Hiệp định về Chuyển giao Người bị kết án tù; hoan
nghênh việc Hiệp định Dẫn độ giữa hai nước bắt đầu có hiệu lực; chỉ đạo
các cơ quan liên quan hai nước tập trung vào việc chia sẻ thông tin và
kinh nghiệm trong đấu tranh chống tội phạm có tổ chức, buôn bán vũ khí
trái phép và buôn bán ma túy. Hai nhà lãnh đạo hoan nghênh việc ký Biên
bản thỏa thuận về việc thành lập Phòng thí nghiệm phục hồi dữ liệu điện
tử Indira Ghandi tại Hà Nội và đề nghị hai bên thúc đẩy để dự án sớm đi
vào hoạt động. Phía Ấn Độ nhất trí tiếp tục hỗ trợ Việt Nam trong việc
đào tạo, nâng cao năng lực và hiện đại hóa cho lực lượng Cảnh sát Việt
Nam .
14. Hai nhà lãnh đạo lên án mạnh mẽ chủ nghĩa khủng bố dưới mọi hình
thức và quyết tâm tăng cường hợp tác nhằm ngăn chặn hiểm họa này một
cách toàn diện. Hai bên cũng nhất trí hợp tác chặt chẽ để sớm hoàn thiện
Công ước Toàn diện về Khủng bố Quốc tế mà Ấn Độ đã trình dự thảo tại
Liên Hợp quốc.
15. Hai nhà lãnh đạo cũng nhất trí tăng cường hợp tác để đối phó hiệu
quả các hiểm họa an ninh phi truyền thống như biến đổi khí hậu, ô nhiễm
môi trường, an ninh năng lượng, HIV/AIDS và các dịch bệnh.
16. Hai nhà lãnh đạo quyết định mở rộng hợp tác song phương trên các
lĩnh vực như công nghệ vũ trụ, quản lý và sử dụng tài nguyên thiên
nhiên, ngăn chặn và ứng phó với thiên tai, dự báo thời tiết, khoa học và
công nghệ biển, thủy văn, khí tượng học, công nghệ na-nô và hợp tác hạt
nhân dân sự. Hai nhà lãnh đạo nhất trí đề nghị các cơ quan liên quan
hai nước tiếp tục hợp tác chặt chẽ để sớm hoàn tất dự án thành lập Trung
tâm theo dõi và tiếp nhận dữ liệu vệ tinh tại Thành phố Hồ Chí Minh
trong khuôn khổ Hợp tác ASEAN - Ấn Độ và nhất trí cho rằng hai bên sẽ
tiếp tục tìm kiếm những lĩnh vực hợp tác mới nhằm thúc đẩy mối quan hệ
song phương như việc Việt Nam phóng vệ tinh sử dụng tên lửa đẩy của Ấn
Độ và hỗ trợ việc thành lập trung tâm quan sát trái đất tại Việt Nam.
Quan hệ Đối tác Kinh tế
17. Hai nhà lãnh đạo nhất trí nâng quan hệ đối tác kinh tế trở thành một
trong những nội dung chính của quan hệ đối tác chiến lược giữa hai
nước. Hai nhà lãnh đạo hoan nghênh kết quả cuộc họp lần thứ nhất Tiểu
ban Hợp tác Thương mại tổ chức ngày 18/11/2013 tại New Delhi và bày tỏ
hài lòng về sự tăng trưởng ổn định của thương mại song phương hướng tới
mục tiêu 7 tỉ đô la Mỹ vào năm 2015. Hai bên nhất trí tạo điều kiện
thuận lợi nhằm tăng thương mại song phương lên 15 tỉ đô la Mỹ vào năm
2020 và thúc đẩy đầu tư giữa hai nước, đặc biệt trong các lĩnh vực như
giáo dục, cơ sở hạ tầng, dầu khí, năng lượng, năng lượng mới và năng
lượng tái tạo, nông nghiệp, dệt, công nghệ thông tin và dược. Hai nhà
lãnh đạo cũng nhất trí hợp tác sớm triển khai Hiệp định thương mại tự do
ASEAN - Ấn Độ trong các ngành dịch vụ và đầu tư nhằm phát triển hơn nữa
dựa trên động lực từ Hiệp định thương mại tự do ASEAN - Ấn Độ trong
lĩnh vực hàng hóa. Hai bên cũng nhất trí hợp tác sớm thực hiện Đối tác
Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) nhằm hỗ trợ Ấn Độ hội nhập vào Cộng
đồng Kinh tế ASEAN.
18. Phía Việt Nam hoan nghênh các dự án đầu tư mới của các công ty Ấn Độ
trong các dự án thượng nguồn và hạ nguồn dầu khí ở Việt Nam . Hai nhà
lãnh đạo tỏ hài lòng rằng Tập đoàn Dầu Khí Quốc gia Việt Nam đã ưu tiên
giới thiệu cho Ấn Độ diện tích thăm dò và khai thác dầu khí mới.
19. Hai bên hoan nghênh và cam kết sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc
mở các văn phòng đại diện của ngân hàng thương mại nước này tại nước
kia, theo quy định của nước sở tại, phù hợp với nguyên tắc thương mại
quốc tế đa phương và các cam kết song phương.
20. Hai nhà lãnh đạo khuyến khích sự hợp tác của khu vực tư nhân của hai
nước và khẳng định sự hỗ trợ của khu vực này đối với Diễn đàn Doanh
nghiệp Việt Nam - Ấn Độ và hoạt động của phòng thương mại công nghiệp
của hai nước. Phía Việt Nam cũng nhất trí hỗ trợ tích cực “Hội đồng
Doanh nghiệp Việt Nam - Ấn Độ”.
21. Hai nhà lãnh đạo hoan nghênh và ủng hộ việc giới thiệu Tập đoàn Tata
tham gia làm nhà thầu của Dự án Nhiệt điện Long Phú 2 công suất 1200
MW. Đây là dự án đầu tư lớn nhất của Ấn Độ tại Việt Nam và sẽ là dự án
tiên phong nhằm kích thích dòng đầu tư lớn hơn từ Ấn Độ.
22. Hai nhà lãnh đạo quyết định tăng cường sự kết nối giữa Việt Nam và
Ấn Độ về vận tải mặt đất, đường biển và đường không. Hai bên hoan nghênh
việc ký kết Hiệp định Vận chuyển Hàng không nhằm thúc đẩy hợp tác trong
ngành hàng không dân dụng; hoan nghênh việc ký kết Hiệp định Vận tải
biển và đề xuất khởi động việc đàm phán chính thức về hiệp định vận tải
tiểu khu vực giữa Ấn Độ và các nước CLMV. Hai nhà lãnh đạo đánh giá cao
tầm quan trọng của việc mở rộng kết nối đường bộ giữa Việt Nam và Ấn Độ
và hoan nghênh đề nghị của Ấn Độ tiến hành thảo luận các yêu cầu về hạ
tầng cơ sở mềm nhằm tạo sự thông suốt cho hàng hóa dịch vụ qua các hành
lang kinh tế và khởi động đàm phán về Hiệp định Vận tải Quá cảnh ASEAN -
Ấn Độ (AITTA), dự kiến hoàn tất vào cuối năm 2015.
23. Hai nhà lãnh đạo đánh giá cao sự đóng góp quan trọng của các dự án
đối tác phát triển và nâng cao năng lực như thành lập một Trung tâm Đào
tạo Công nghệ Thông tin và tiếng Anh ở Học viện Quốc phòng Việt Nam ở Hà
Nội, Trung tâm Đào tạo nghề ở thành phố Hồ Chí Minh và đưa vào hoạt
động “Trung tâm tính toán hiệu năng cao” tại Đại học Bách khoa Hà Nội.
Hai bên cũng nhất trí xúc tiến các dự án mới trong gói tín dụng của Ấn
Độ. Phía Việt Nam cũng hoan nghênh việc thành lập Quỹ các Dự án quy mô
nhỏ, hiệu quả nhanh trong đó Ấn Độ sẽ hỗ trợ các dự án thiết thực nhằm
phục vụ kịp thời lợi ích của người dân địa phương trong các lĩnh vực như
giáo dục, y tế, vệ sinh và phát triển cộng đồng.
24. Hai nhà lãnh đạo ghi nhận sự hợp tác mạnh mẽ giữa hai nước trong
lĩnh vực nông nghiệp và các lĩnh vực liên quan và nhất trí làm sâu sắc
hơn nữa sự hợp tác nghiên cứu và phát triển trong nông nghiệp, nghề cá,
nuôi trồng thủy sản, chăn nuôi và sản xuất bơ sữa. Hai nhà lãnh đạo đề
nghị hai bên sớm tổ chức Hội nghị Việt Nam - Ấn Độ về Nông nghiệp giữa
Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam (VAAS) và Hội đồng Nghiên cứu Nông
nghiệp Ấn Độ (ICAR) và nhấn mạnh tiềm năng hợp tác to lớn nữa giữa hai
bên. Hai nhà lãnh đạo hoan nghênh việc Việt Nam hợp tác thành lập trang
trại nuôi cá tra ở Ấn Độ; nhất trí thúc đẩy nghiên cứu và trao đổi thông
tin về Hội chứng tôm chết sớm trong ngành nuôi tôm.
25. Hai nhà lãnh đạo tỏ hài lòng về việc ký kết Chương trình Hợp tác
trong lĩnh vực Khoa học và công nghệ giai đoạn 2013-2014. Hai bên cũng
hoan nghênh Chương trình Hợp tác giữa Bộ Khoa học-công nghệ Việt Nam và
Cục Công nghệ sinh học Ấn Độ.
Văn hóa và giao lưu nhân dân
26. Hai nhà lãnh đạo nhất trí tăng cường giao lưu hữu nghị, giao lưu
nhân dân và hợp tác trong các lĩnh vực văn hóa, khảo cổ học, bảo tồn,
khoa học bảo tàng, du lịch, y tế công cộng, thể thao, giáo dục và truyền
thông; hoan nghênh việc lập quan hệ kết nghĩa giữa thành phố Mumbai và
thành phố Hồ Chí Minh. Phía Việt Nam hoan nghênh quyết định mở Trung tâm
Văn hóa Ấn Độ tại Hà Nội nhằm thúc đẩy giao lưu giữa các nghệ sĩ và
đoàn nghệ thuật hai nước, tổ chức các liên hoan phim, giao lưu giữa
thanh niên và các hoạt động văn hóa khác.
27. Hai nhà lãnh đạo nhất trí đề nghị hai nước sớm ký kết Bản ghi nhớ về
Bảo tồn và trùng tu Tháp Chàm do Cục Điều tra Khảo cổ học Ấn Độ tài trợ
tại Khu di tích Mỹ Sơn ở Việt Nam .
28. Hai nhà lãnh đạo tỏ hài lòng về kết quả cuộc họp lần thứ hai Nhóm
Công tác Chung Giao lưu Giáo dục về sự hợp tác giữa các trường đại học
và viện nghiên cứu, đặc biệt là đề xuất giới thiệu bộ giáo trình của Ủy
ban Quốc gia về Giáo dục Trung học (CBSE) Ấn Độ tại các trường học của
Việt Nam.
Hợp tác tại các diễn đàn khu vực và quốc tế
29. Hai nhà lãnh đạo đánh giá cao vai trò ngày càng tăng của hai nước
trong các vấn đề khu vực và nhất trí tăng cường hơn nữa hợp tác tại các
diễn đàn khu vực và quốc tế, đặc biệt ở ASEAN, Hội nghị Thượng đỉnh Đông
Á (EAS), Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF), Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng
ASEAN Mở rộng (ADMM+), Diễn đàn Hàng hải ASEAN Mở rộng (EAMF), Hội nghị
Á-Âu (ASEM), Hợp tác Mê-công – Sông Hằng (MGC), Tổ chức Thương mại Thế
giới (WTO), Liên Hợp quốc và Phong trào Không Liên kết. Hai nhà lãnh đạo
nhấn mạnh rằng quan hệ hợp tác giữa hai nước phù hợp với nguyện vọng và
ý chí của hai bên nhằm cùng nhau hướng tới hòa bình, thịnh vượng và ổn
định trong khu vực và thế giới.
30. Ấn Độ bày tỏ đánh giá cao việc Việt Nam tiếp tục ủng hộ Ấn Độ trở
thành Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp quốc mở rộng. Phía Ấn
Độ khẳng định ủng hộ Việt Nam ứng cử làm Ủy viên không thường trực Hội
đồng Bảo an Liên Hợp quốc nhiệm kỳ 2020-2021 và phía Việt Nam bày tỏ sự
ủng hộ có đi có lại đối với việc Ấn Độ ứng cử làm Ủy viên không thường
trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp quốc nhiệm kỳ tiếp theo. Việt Nam cũng bày
tỏ sự ủng hộ đối với việc Ấn Độ trở thành thành viên Hội đồng Nhân
quyền nhiệm kỳ 2015-2017. Phía Việt Nam đánh giá cao sự ủng hộ của Ấn Độ
đối với việc Việt Nam nộp hồ sơ làm thành viên Tổ chức Thủy đạc Quốc
tế. Phía Ấn Độ đánh giá cao sự ủng hộ của Việt Nam đối với việc Ấn Độ
tái cử vào Nhóm II của Tổ chức Hàng không Dân dụng Quốc tế (ICAO).
31. Hai nhà lãnh đạo hoan nghênh việc ký kết một số thỏa thuận và Bản
ghi nhớ song phương trong chuyến thăm và đề nghị các cơ quan hữu quan
khởi động các bước nhằm sớm triển khai các thỏa thuận này một cách đầy
đủ. Các văn kiện được ký kết trong chuyến thăm bao gồm: Hiệp định Vận
chuyển Hàng không, Bản ghi nhớ về thành lập Phòng thí nghiệm phục hồi dữ
liệu điện tử Indira Gandhi tại Hà Nội, Thỏa thuận về bảo vệ tương hỗ
trao đổi thông tin mật, Bản ghi nhớ giữa hai Bộ Tài chính, Thỏa thuận
hợp tác giữa Đại học Quốc gia Hà Nội và Hội đồng Nghiên cứu và Công
nghiệp Ấn Độ, Bản ghi nhớ về hợp tác giữa Học viện Chính trị - Hành
chính Quốc gia Hồ Chí Minh và Viện Quản lý Ấn Độ, Bangalore, Bản Ghi nhớ
hợp tác Dầu Khí giữa PetroVietnam và Công ty OVL Ấn Độ, Bản ghi nhớ về
Dự án nhiệt điện Long Phú II giữa Bộ Công Thương Việt Nam và Tập đoàn
Tata.
32. Hai nhà lãnh đạo hai nước đã có các cuộc trao đổi trong không khí
thân mật, nồng ấm và hữu nghị. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chân
thành cảm ơn Chính phủ và nhân dân Ấn Độ về lòng mến khách và sự đón
tiếp nồng hậu dành cho Tổng Bí thư và đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam
trong chuyến thăm cấp Nhà nước tới Cộng hòa Ấn Độ. Tổng Bí thư Nguyễn
Phú Trọng đã mời Thủ tướng Manmohan Singh thăm Việt Nam vào thời gian
thuận tiện cho cả hai bên. Thủ tướng đã vui vẻ nhận lời, thời gian
chuyến thăm sẽ được thu xếp qua đường ngoại giao./.
Ngày 20 tháng 11 năm 2013
New Delhi