Là một trong những tổ chức quốc tế của Liên hợp quốc sớm có mặt tại Việt Nam, sau 30 năm, Quỹ dân số Liên hợp quốc (UNFPA) đã góp phần quan trọng vào việc giảm tỷ lệ tăng dân số, cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân Việt Nam.
Vào thời điểm UNFPA bắt đầu xây dựng chương trình hợp tác đầu tiên, ngay khi Việt Nam gia nhập Liên hợp quốc năm 1977, Việt Nam còn là một nước nông nghiệp lạc hậu với nền kinh tế bị tàn phá nặng nề sau mấy chục năm chiến tranh, quy mô dân số khoảng 50 triệu người và đang theo đà tăng với mức dự kiến lên gấp đôi sau 30 năm.
Với vai trò là nguồn hỗ trợ tài chính, kỹ thuật duy nhất cho Việt Nam trong lĩnh vực dân số lúc đó, khi đất nước đang bị cấm vận, UNFPA cùng chung nhận thức với Chính phủ rằng, mọi thành quả phát triển kinh tế-xã hội dù to lớn đến mấy cũng khó đáp ứng nổi những nhu cầu cơ bản của một dân số có quy mô lớn như vậy.
Đặt trọng tâm vào những hỗ trợ tư vấn kỹ thuật, UNFPA đã triển khai khoảng 100 dự án với số tiền tài trợ khoảng 170 triệu USD, tập trung cho đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao khả năng phân tích, thu thập và xử lý hiệu quả số liệu để làm cơ sở cho việc hoạch định chính sách trong lĩnh vực dân số. Những hỗ trợ kỹ thuật tích cực từ UNFPA đã giúp Việt Nam tiến hành hiệu quả các cuộc tổng điều tra dân số và cung cấp những số liệu, thông tin đáng tin cậy cho việc hoạch định chính sách, khắc phục điểm yếu lâu nay của Việt Nam về thống kê và phân tích số liệu.
Cùng với việc giúp chính phủ Việt Nam hoạch định chính sách về dân số, UNFPA còn hỗ trợ nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản. Tình trạng sức khỏe bà mẹ-trẻ em ở Việt Nam đã được cải thiện rõ rệt, tuổi thọ trung bình của phụ nữ tăng từ 67,5 trong giai đoạn 1984-1989 lên 71,6 trong giai đoạn 2002-2006. Số lượng bà mẹ và trẻ sơ sinh tử vong đã giảm đáng kể.
Ủng hộ chủ trương của Chính phủ về việc phân cấp quản lý, UNFPA đã triển khai rất thành công mô hình nâng cao năng lực tại địa phương, làm thay đổi nhận thức, hành vi của người dân, đặc biệt là ở những vùng sâu, vùng xa, nơi tiếp cận thông tin còn hạn chế; tăng cường công tác đào tạo, tư vấn về y tế cho tuyến cơ sở để nâng cao chất lượng dịch vụ y tế, giảm thiểu rủi ro.
Với nỗ lực của Chính phủ và sự giúp đỡ có hiệu quả của UNFPA cùng các nhà tại trợ khác, Việt Nam đã đạt chỉ tiêu giảm tỷ lệ tăng dân số và đạt mức sinh thay thế sớm hơn dự kiến. Thay vì giảm tổng tỷ suất sinh xuống mức 2,9 con, qui mô dân số dưới mức 82 triệu người vào năm 2000, đạt mức sinh thay thế vào năm 2015 như mục tiêu của Chiến lược Dân số-Kế hoạch hóa gia đình, Việt Nam đã đạt mức sinh thay thế ngay từ năm 2005, quy mô dân số năm 2000 chỉ ở mức 78 triệu người và tổng tỷ suất sinh là 2,3.
Thành tựu nổi bật này đã giúp Việt Nam giành Giải thưởng Dân số Liên hợp quốc năm 1999, đồng thời đóng góp rất lớn vào kết quả xóa đói giảm nghèo ấn tượng mà Việt Nam từng được cộng đồng quốc tế ghi nhận. Việt Nam đã trở thành một quốc gia có tốc độ tăng trưởng kinh tế vào loại nhanh nhất trong khu vực và đang hướng tới mục tiêu thoát khỏi tình trạng kém phát triển ngay trong thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 21.
Đại diện UNFPA cho rằng, việc tiếp tục duy trì mức giảm sinh như hiện nay đã tạo cơ thực tiễn để Chính phủ đề ra mục tiêu sớm đưa Việt Nam thành nước có thu nhập trung bình với GDP bình quân đầu người 1.000 USD/năm vào cuối thập kỷ này.
Tuy nhiên, cả hai bên cùng cho rằng vẫn còn nhiều thách thức mà Việt Nam phải vượt qua trong những năm tới. Đó là qui mô dân số vẫn lớn và sẽ tiếp tục tăng trong vòng 40-50 năm tiếp theo, mức sinh giảm không đồng đều giữa các vùng miền, tâm lý ưa thích có con trai còn tồn tại trong một bộ phận dân cư đang là nguy cơ gây nên tình trạng mất cân đối về giới tính. Bên cạnh đó, xu hướng già hóa dân số khiến nhóm người trên 60 tuổi sẽ tăng từ 6,2 triệu trong năm 1999 lên 6,9 triệu năm 2010 và sẽ là 11 triệu trong năm 2020. Thực tế này đặt ra thách thức mới về an sinh xã hội như chăm sóc người cao tuổi và sức khỏe sinh sản. Ngoài ra, tỉ lệ tử vong bà mẹ và trẻ sơ sinh ở các vùng sâu-xa vẫn cao, nguy cơ nhiễm HIV/AIDS ở giới trẻ cũng đáng báo động.
Bởi vậy, nội dung hợp tác Việt Nam-UNFPA thời gian tới sẽ được tiếp tục với các nghiên cứu, dự đoán dài hạn, nhằm giúp Việt Nam chủ động đưa ra các chính sách đón đầu đối phó với những thách thức mới về dân số. Về phía UNFPA, những mô hình thành công sẽ tiếp tục được nhân rộng như cấp cứu sản khoa, làm mẹ an toàn ở khu vực miền núi.
Trong dịp kỷ niệm 30 năm hợp tác giữa Việt Nam và UNFPA, một lễ mít tinh cùng nhiều hoạt động về dân số sẽ diễn ra tại Hà Nội, Hòa Bình, bắt đầu từ ngày 1/11 tới. Phó Giám đốc điều hành UNFPA Niu Yoóc, bà Purnima Mane, cũng sẽ đến thăm Việt Nam và tham dự các hoạt động nhân dịp này./.(TTXVN)